Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – AN GIANG

Bản án số: 75/2025/HS-ST

Ngày 09 tháng 12 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Liêm, bà Trần Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Tùng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh L, sinh ngày 06-02-1995 tại phường B, tỉnh An Giang; nơi thường trú: số A, khóm B, phường B, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Phước T (đã chết); có vợ là Trần Thị Kim N và có 02 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018.

Nhân thân:

  • Ngày 25 tháng 02 năm 2022, bị Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản;
  • Ngày 21 tháng 7 năm 2022, bị Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 03 tháng, đến ngày 21 tháng 10 năm 2022 chấp hành xong.

Tiền án: Ngày 06 tháng 6 năm 2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 24 tháng 01 năm 2025 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 01-9-2025 đến ngày 04-9-2025 chuyển tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L (nay là P trại tạm giam Chợ M - thuộc Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh A); có mặt.

Bị hại: Bà Trần Thị Loan A, sinh năm 1966, địa chỉ: số E, tổ G, khóm T, phường L, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người làm chứng: Trần Minh G, sinh năm 1988; Trần Hoàng N1, sinh năm 1982 (cùng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 01-9-2025, Nguyễn Minh L đi bộ đến nhà số E, tổ G, khóm T, phường L, tỉnh An Giang thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 67M9-5040 của bà Trần Thị L1 Anh còn chìa khóa trên xe, dựng trong sân nhà thì nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô. Quan sát thấy không người trông giữ, L đi vào lấy xe mô tô, chạy về hướng cầu P. Lúc này, các ông Trần Minh G, Trần Hoàng N1 phát hiện, truy hô, đuổi theo khoảng 500 mét thì xe bị tắt máy nên L bỏ xe chạy bộ, bị các ông G, Nam giữ lại đưa đến Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67M9-5040, 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 047118 (đã trả lại cho bị hại Trần Thị Loan A); 01 cây đèn pin màu đen và 01 thanh kim loại dài 08cm, rộng 01cm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 807/KL-HĐĐGTS ngày 24-10-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thường xuyên cấp tỉnh xác định: 01 xe mô tô hai bánh, loại xe số, nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 67M9-5040, số máy: 6749149, số khung: 926134 trị giá 9.450.000 đồng (bút lục số 30-33).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số: 25/CT-VKSKV9 ngày 14 tháng 11 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang đã truy tố Nguyễn Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Minh L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại bà Trần Thị Loan A, người làm chứng Trần Minh G, Trần Hoàng N1 vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra đã trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về xử lý vật chứng, quá trình điều tra, xe mô tô biển số 67M9-5040 đã được giao trả cho bị hại Trần Thị Loan A là đúng quy định nên không đề cập xử lý lại; đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đèn pin, 01 thanh kim loại là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Minh L không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

Tại phiên toà, bị hại Trần Thị Loan A, người làm chứng Trần Minh G, Trần Hoàng N1 vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Minh L đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 01-9-2025, tại khu vực nhà số E, tổ G, khóm T, phường L, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Minh L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 67M9-5040 của bà Trần Thị Loan A với trị giá tài sản là 9.450.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 06-6-2024, Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 24-01-2025, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích. Do đó, lần pham tội này bị cáo phải chịu tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Điều này chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô biển số 67M9-5040, quá trình điều tra đã được trả lại cho bị hại là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không đề cập, giải quyết lại.

Đối với 01 cây đèn pin màu đen, 01 thanh kim loại dài 08cm, rộng 01 cm là công cụ bị cáo chuẩn bị để sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01-9-2025).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây đèn pin màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) thanh kim loại dài 08cm, rộng 01cm (một đầu nhọn, một đầu hình lục giác)

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A với Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Trần Thị L1 Anh vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 9 - An Giang;
  • - Phân trại tạm giam Chợ Mới - thuộc Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phí Thị Phương Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 75/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS Nguyễn Minh Luân - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger