TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2025/HNGĐ - ST Ngày 30/09/2025 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Hùng và bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đào Đức Huy – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 105/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 08 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 09 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 09 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985 (Vắng mặt không có lý do)
- Cùng HKTT: thôn N, xã H, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị T đã có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại các buổi làm việc của Tòa án:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H từ tháng 01 năm 2007 là hôn nhân tự nguyện, trước khi cưới có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện M, TP Hà Nội (nay là xã H, TP Hà Nội). Sau khi cưới vợ chồng chuyển vào chung sống với nhau trong miền N tại địa chỉ B19G T, xã T, huyện B, Tp .. Sau một thời gian chung sống đến tháng 08 năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bộc lộ sự không hòa hợp trong tính cách, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó vợ chồng thường xuyên to tiếng cãi vã xúc phạm nhau. Mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã tự sống ly thân từ 2022 đến nay. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh H để giải thoát cho cả hai.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Duy T1 sinh ngày 10/11/2007, Nguyễn Bảo K sinh ngày 26/10/2010 và Nguyễn Minh Đ sinh ngày 13/01/2019, ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, đề nghị anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu T1 và cháu K, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung của vợ chồng: vợ chồng không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung của vợ chồng: vợ chồng không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị T đồng ý nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Qua buổi làm việc tại nhà của anh Nguyễn Văn H:
Bố của anh H là ông Nguyễn Văn S trình bày: Năm 2007, gia đình ông tổ chức lễ cưới cho anh H và chị T. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm lối sống, không có lòng tin, không có sự chung thủy. Thường xuyên cãi vã, xung đột, gia định hai bên nội ngoại đã nhiều lần khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả, vợ chồng anh H chị T đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Việc chị T xin ly hôn, anh H đã biết nhưng do đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà. Anh H có quan điểm đồng ý ly hôn với chị T (ông S gọi điện cho anh H và anh H có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T). Vợ chồng anh H chị T có 03 con chung là Nguyễn Duy T1 sinh ngày 10/11/2007, Nguyễn Bảo K sinh ngày 26/10/2010 và Nguyễn Minh Đ sinh ngày 13/01/2019, từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu T1 và cháu K ở với anh H, cháu Đ ở với chị T. Nay ly hôn, anh H có nói với tôi là anh H có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T1 và cháu K, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, anh H đồng ý giao cháu Đ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, công nợ chung của anh H và chị T thì anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như: thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Con chung: giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Duy T1 sinh ngày 10/11/2007 và Nguyễn Bảo K sinh ngày 26/10/2010 cho anh Nguyễn Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Minh Đ sinh ngày 13/01/2019 cho chị Hoàng Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị giải quyết nên không xét; chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. HĐXX nhận thấy:
[1] Về thẩm quyền: Yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án đã sửa đổi ngày 26/6/2025.
[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị T, HĐXX nhận thấy rằng:
Hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn H là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống đến tháng 08 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng trong cuộc sống, đặc biệt vợ chồng không yêu thương, quan tâm, chăm sóc cho nhau. Chị T và anh H đã ly thân trong khoảng thời gian dài từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Anh H tuy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến, không đến tham gia các buổi làm việc tại Tòa án, thể hiện ý chí không muốn hàn gắn, đoàn tụ với chị T. Xét thấy, vợ chồng chị T, anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, đó là vợ chồng không thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc hòa giải ly hôn giữa chị T, anh H không có kết quả do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về nuôi con chung sau ly hôn: Giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Duy T1 sinh ngày 10/11/2007 và Nguyễn Bảo K sinh ngày 26/10/2010 cho anh Nguyễn Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Minh Đ sinh ngày 13/01/2019 cho chị Hoàng Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Các bên có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về công nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[3] Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 143; 144; 147; 271; 273; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án đã sửa đổi ngày 26/6/2025;
Áp dụng các điều 51, 54, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị Tuyết . Chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
2. Về nuôi con sau ly hôn: Giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Duy T1 sinh ngày 10/11/2007 và Nguyễn Bảo K sinh ngày 26/10/2010 cho anh Nguyễn Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Minh Đ sinh ngày 13/01/2019 cho chị Hoàng Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Các bên có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: chị T, anh H không đề nghị Toà án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003855 ngày 08/08/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Hà Nội.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Tuấn |
Bản án số 75/2025/HNGĐ - ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 75/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
