Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 744/2025/DS-PT

Ngày: 09-12-2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành.

Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Hồng Mai

Bà Lê Thị Bích Tuyền

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hường, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Phạm Khánh, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 468/2025/DS-PT ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 648/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị U, sinh năm 1952; địa chỉ cư trú: Ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

Bị đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1951; địa chỉ cư trú : Ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà V: Luật sư Nguyễn Văn H – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

4. Người kháng cáo: bà Lê Thị V, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 14/02/2025, Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 12/3/2025, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị U trình bày:

Bà sống chung với chồng tên Huỳnh Bá Đ vào năm 1970, đến năm 1976 chồng bà qua đời nên bà sống chung với mẹ chồng tên Đặng Thị B. Năm 1978, bà được mẹ chồng cho phần đất tại vị trí thửa 39 và 38, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp D, xã B, tỉnh Tây Ninh và trực tiếp canh tác từ đó đến nay.

Vào năm 1996 bà đến UBND xã T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi cấp giấy không có đo đạc thực tế nên bà chỉ kê khai đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 3,5 công đất của thửa đất số 209 (nay là thửa 39). Sau đó, bà phát hiện bà còn một phần đất thuộc một phần thửa 207 (nay là thửa 38) chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vì không đủ tiền đóng thuế nên để từ từ khi nào có tiền thì đăng ký tiếp. Nhưng vì do công việc làm ăn cuộc sống gia đình khó khăn nên chưa đăng ký phần đất này để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khoảng năm 2020 bà tiếp tục đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10 nhưng cán bộ địa chính xã T cũ nói rằng thửa đất này đang liên quan đến vụ án tranh chấp của bà Lê Thị V với ông Nguyễn Hữu Anh T (liên quan thửa đất 207 cũ do bà V đứng tên sổ mục kê) nên không làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà được, thời điểm này giữa bà với bà V không có tranh chấp. Đến năm 2024, sau khi vụ kiện của bà V với ông T đã xong, bà làm thủ tục để được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 38 thì bị bà V tranh chấp cho rằng đất nằm trong sổ mục kê của bà V và yêu cầu để bà V cấp GCNQSDĐ lần đầu đối với thửa 207 xong sẽ làm thủ tục chuyển quyền lại cho bà nhưng bà không đồng ý vì đây là đất của bà canh tác từ xưa đến nay. Bà xác định thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10, diện tích 779,4m², loại đất LUC, tọa lạc tại ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc của mẹ chồng bà tặng cho bà từ năm 1978 và bà trực tiếp canh tác ổn định từ khi được tặng cho đến nay.

Nay bà khởi kiện yêu cầu được công nhận quyền sử dụng phần đất diện tích 779,4m² thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh theo Mảnh trích đo địa chính số 67-2025 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 28/5/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại khu vực B duyệt ngày 13/6/2025 để bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại đơn khởi kiện phản tố ngày 05/3/2025, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị V trình bày:

Thửa đất 207, tờ bản đồ số 3, diện tích 4.014m², tại xã T do bà đứng tên trên Sổ Mục kê có nguồn gốc của ông Hội đồng Bỉnh hiến đất cho UBND xã quản lý, UBND xã cấp cho mẹ chồng là Lê Thị T1 vào năm 1978 theo chính sách gia đình liệt sĩ. Đến năm 1980, bà T1 bán cho bà V với giá 04 chỉ vàng 24k, việc mua bán không lập thành văn bản. Bà đóng thuế cho nhà nước và kê khai đứng tên trên sổ mục kê. Thửa đất 207 hiện nay bao gồm 3 phần gồm thửa 38 diện tích đất 779,4m², thửa 165 diện tích khoảng 2.129,3m² và thửa 498 diện tích 1.086,9m². Trong đó thửa 165 bà trực tiếp quản lý từ trước đến nay không ai tranh chấp; thửa 498 có tranh chấp với ông Nguyễn Hữu Anh T vào năm 2020 và được Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết phúc thẩm năm 2024 nhưng bà chưa đồng ý nên đang khiếu nại giám đốc thẩm.

Riêng đối với 779,4m² thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10, tại ấp D T, xã B, tỉnh Tây Ninh thì do bà U trực tiếp quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Tuy nhiên, khi đo đạc tranh chấp đất với ông T thì bà phát hiện phần đất này nằm trong thửa 207 theo sổ mục kê do bà đứng tên nên bà không đồng ý cho bà U được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Bà đã liên hệ bà U đợi để bà được cấp GCNQSDĐ xong rồi bà sẽ làm thủ tục sang tên lại cho bà U nhưng bà U không đồng ý mà khởi kiện tại Tòa nên bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khởi kiện yêu cầu phản tố: Buộc bà Lê Thị U trả cho bà phần đất diện tích 779,4m² thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10 (theo sổ mục kê thuộc một phần thửa 207, tờ bản đồ số 3), tại ấp D, xã B, tỉnh Tây Ninh và yêu cầu công nhận cho bà được quyền sử dụng đất đối với phần đất này.

Bà U có thửa đất 209 đã được kê khai cấp giấy lần đầu, còn thửa 207 của bà vẫn chưa được cấp giấy lần đầu nên yêu cầu bà U trả lại cho bà để bà được cấp giấy.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày như trên, không bổ sung yêu cầu nào khác. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và ý kiến phản đối.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự thống nhất xác định: Không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ. Đồng thời, cam kết ngoài những chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, thì không còn chứng cứ nào khác để cung cấp tại thời điểm hiện tại cho đến khi Tòa án xét xử các cấp và cũng không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm những người khác tham gia tố tụng trong vụ án này.

Các đương sự thống nhất theo mảnh trích đo địa chính số 67-2025 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 28/5/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B, tỉnh Long An duyệt ngày 13/6/2025, Biên bản định giá ngày 25/3/2025, hiện trạng không thay đổi so với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/3/2025.

Tại Bản án sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị U đối với bị đơn bà Lê Thị V về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.

    Bà Lê Thị U được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với 779,4m², thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp D, xã B, tỉnh Tây Ninh.

    (Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 67-2025 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 28/5/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại khu vực B duyệt ngày 13/6/2025).

    Bà Lê Thị U được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai.

    Cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị V về việc yêu cầu nguyên đơn bà Lê Thị U trả đất và công nhận QSDĐ đối với 779,4m², thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp D, xã B, tỉnh Tây Ninh.
  3. Chi phí tố tụng: 14.192.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, thu thập chứng cứ. Bà Lê Thị V phải chịu toàn bộ chi phí. Do bà U đã nộp tạm ứng nên bà V phải nộp để trả cho bà U số tiền 14.192.000 đồng.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Lê Thị V được miễn án phí.

    Bà Lê Thị U thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí nên không phải hoàn trả tạm ứng án phí.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/8/2025, bà Lê Thị V, là bị đơn trong vụ án, có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử thu thập chứng cứ: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa 207, tờ bản đồ số 3, diện tích 3953m² và thửa 2026, tờ bản đồ số 4 toạ lạc tại xã T, huyện B, Long An (nay là xã B, Tây Ninh).

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của bà Lê Thị V, ngày 19/8/2025 nộp trong thời hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị V, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Tại phiên toà phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà V yêu cầu thu thập chứng cứ là Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa 207, tờ bản đồ số 3, diện tích 3953m² và thửa 2026, tờ bản đồ số 4 toạ lạc tại xã T, huyện B, Long An (nay là xã B, Tây Ninh).

[2.2] Tại Văn bản số 181/CNVPĐKĐĐ –KTLT ngày 19/5/2025 của Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện B trả lời cho TAND huyện Bến Lức: “Thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3, diện tích 4014m² được phiên ngang bản đồ mới thành thửa đất số 165, 498 tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 38 tờ bản đồ số 10. Thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 do bà Lê Thị V đứng tên trên sổ mục kê. Thửa đất số 165 tờ bản đồ số 11, diện tích 2129,3m²; thửa đất số 38 tờ bản đồ số 10 do bà Lê Thị V đứng tên sổ mục kê. Thửa đất số 498 tờ bản đồ số 11 sổ mục kê chưa cập nhật (kèm trang sổ mục kê). Thửa đất số 207 tờ bản đồ số 3 hiện chưa đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Đối với thửa 2026, tờ bản đồ số 4 toạ lạc tại xã T, huyện B, Long An (nay là xã B, Tây Ninh), không liên quan đến việc giải quyết vụ án. Do đó yêu cầu thu thập chứng cứ của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn không được chấp nhận.

[2.3] Nguyên đơn, bị đơn thống nhất phần đất tranh chấp là 779,4m² thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10 (theo sổ mục kê thuộc một phần thửa 207, tờ bản đồ số 3), tại ấp D, xã B, tỉnh Tây Ninh (Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 67-2025 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 28/5/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại khu vực B duyệt ngày 13/6/2025). Về nguồn gốc đất: Bà Lê Thị U trình bày, đất do mẹ chồng tên Đặng Thị B cho vào năm 1978, bà trực tiếp canh tác từ đó đến nay. Bà Lê Thị V trình bày phần đất này bà mua lại của mẹ chồng bà là bà Lê Thị Thạch . Mặc dù các bên trình bày không thống nhất về nguồn gốc đất nhưng nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất quá trình sử dụng đất. Đối với một phần thửa 207, tờ bản đồ số 3 (thửa 38, tờ bản đồ số 10 theo Bản đồ địa chính hiện nay), bà Lê Thị U là người trực tiếp sử dụng từ năm 1978 đến nay nhưng bà Lê Thị V là người đứng tên trong sổ mục kê. Sau khi chuyển đổi bản đồ thì thửa 38, tờ bản đồ số 10 chưa có ai đứng tên sổ mục kê. Thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Do đó, mặc dù bà Lê Thị V đứng tên trên sổ mục kê nhưng không trực tiếp sử dụng đất nên không thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Lê Thị U là người trực tiếp sử dụng đất ổn định lâu dài từ năm 1978 đến nay nên đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại các Điều 99,100,101 Luật Đất Đai 2013, Điều 137,138 Luật Đất Đai 2024.

[3] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng bản chất vụ án, áp dụng đúng pháp luật. Bà Lê Thị V kháng cáo nhưng không chứng minh được yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Tuy nhiên, tại phần chi phí tố tụng: Cấp sơ thẩm tuyên bà Lê Thị V phải chịu toàn bộ chi phí. Do bà U đã nộp tạm ứng nên bà V phải nộp để trả cho bà U số tiền 14.192.000 đồng nhưng không tuyên nghĩa vụ chịu lãi chậm thi hành án là thiếu sót nên cấp phúc thẩm bổ sung phần này.

[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo là có căn cứ.

[5] Về án phí:

5.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị V được miễn án phí.

Bà Lê Thị U thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí nên không phải hoàn trả tạm ứng án phí.

5.2. Án phí phúc thẩm dân sự: do kháng cáo của bà Lê Thị V được chấp nhận nên bà Lê Thị V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị V.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh.

Căn cứ khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Các Điều 99, 100, Điều 101, Điều 166, Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 137, 138 Luật Đất đai năm 2024;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị U đối với bị đơn bà Lê Thị V về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.

    Bà Lê Thị U được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng đối với 779,4m², thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp D, xã B, tỉnh Tây Ninh.

    (Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 67-2025 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 28/5/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại khu vực B duyệt ngày 13/6/2025).

    Bà Lê Thị U được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai.

    Cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị V về việc yêu cầu nguyên đơn bà Lê Thị U trả đất và công nhận QSDĐ đối với 779,4m², thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp D, xã B, tỉnh Tây Ninh.
  3. Chi phí tố tụng: 14.192.000 đồng chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, thu thập chứng cứ. Bà Lê Thị V phải chịu toàn bộ chi phí. Do bà U đã nộp tạm ứng nên bà V phải nộp để trả cho bà U số tiền 14.192.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bà Lê Thị V còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Lê Thị V được miễn án phí.

    Bà Lê Thị U thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí nên không phải hoàn trả tạm ứng án phí.

  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị V được miễn án phí.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bích Tuyền - Võ Thị Hồng Mai

Hoàng Thị Thúy Lành

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND khu vực 4 - Tây Ninh;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
  • - Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
  • - Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thúy Lành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 744/2025/DS-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 744/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị U "tranh chấp quyền sử dụng đất" Lê Thị V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger