Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/HS-ST

Ngày 26-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Định
  • - Thẩm phán: Bà Lê Thị Thúy Linh
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Trần Thanh Hùng
    • Bà Trần Thị Hợi
    • Bà Liêu Bích Nga
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trang Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau (Cơ sở B) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Liên Việt T, sinh ngày 27/3/1989 tại Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp E, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liên Hoàng M, sinh năm 1965 và bà Lương Thị T1, sinh năm 1967; vợ Nguyễn Thị Mộng T2, sinh năm 1993 và có 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay. “Có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Huỳnh Thị Hồng T3 - Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (nay là Đoàn Luật sư tỉnh C). “Có mặt”.

- Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn C, sinh ngày 01/01/1985; địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau). “Vắng mặt”.
  2. Ông Võ Văn C1, sinh ngày 01/01/1989; địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau). “Có mặt”.
  3. Ông Phạm Thái P, sinh ngày 02/01/1992; địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau). “Có mặt”.
  4. Bà Nguyễn Thị D, sinh ngày 01/8/1978; địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau). “Vắng mặt”.
  5. Ông Nguyễn Minh C2, sinh năm 1959; địa chỉ: Ấp E, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau). “Vắng mặt”.
  6. Bà Trần Thị N, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp E, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau). “Có mặt”.
  7. Ông Lâm Văn T4, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp E, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau). “Có mặt”.
  8. Ông Trần Minh Tân S ngày 01/01/1988; địa chỉ: Khóm G, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm G, phường L, tỉnh Cà Mau). “Vắng mặt”.
  9. Ông Trần Văn Đ, sinh ngày 15/01/1987; địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau). “Có mặt”.
  10. Ông Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 01/01/1955; địa chỉ: Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm C, phường L, tỉnh Cà Mau). “Vắng mặt”.
  11. Ông Trần Quang T5, sinh ngày 08/7/1987; địa chỉ: Khóm B, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm B, phường G, tỉnh Cà Mau). “Có mặt”.
  12. Ông Hồ Ngọc H, sinh ngày 01/01/1961; địa chỉ: ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Đ, tỉnh An Giang). “Vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Huỳnh Văn Đ1, sinh ngày 01/01/1978; địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau). “Vắng mặt”.
  2. Ông Nguyễn Hoàng K1, sinh ngày 04/8/1992; địa chỉ: Khóm A, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau). “Vắng mặt”.
  3. Bà Nguyễn Thị Mộng T2, sinh ngày 15/01/1993; địa chỉ: Ấp E, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau). “Có mặt”.
  4. Ông Nguyễn Tấn Đ2, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp E, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm E, phường L, tỉnh Cà Mau). “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2014, Liên Việt T hành nghề mua bán lúa tại địa bàn thị xã G, tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh lân cận, mua rồi bán lại cho chủ vựa lúa hoặc mai mối cho các ghe lúa đến mua lúa của các hộ dân (cò lúa) để hưởng tiền lời. Để có tiền mua bán lúa, từ năm 2019 đến năm 2021, Liên Việt T đã 03 lần vay tiền Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 - Phòng giao dịch thị xã G (gọi tắt Ngân hàng S2), tổng số tiền 2.000.000.000₫ bằng hình thức vay thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cuối năm 2021, do dịch Covid-19 nên việc kinh doanh mua bán lúa bị thua lỗ và nợ nhiều người. Do làm ăn bị thua lỗ nên Liên Việt T đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của người khác, cụ thể:

- Chiếm đoạt tiền bán lúa của các hộ dân:

Vụ lúa năm 2022, từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2022, sau khi đặt tiền cọc mua lúa của các hộ dân ở địa phương và hẹn ngày cắt lúa thì đồng thời Liên Việt T cũng liên hệ phía Công ty thu mua lúa là đối tác làm ăn với Liên Việt T đến ngày người dân thu hoạch lúa thì phía Công ty sẽ đưa ghe đến cân và nhận lúa trực tiếp với người dân; Liên Việt T là người trực tiếp thỏa thuận mua lúa của các hộ dân và thanh toán tiền cho các hộ dân, còn phía Công ty thu mua lúa sẽ trực tiếp thỏa thuận việc mua bán lúa với Liên Việt T và thanh toán tiền cho Liên Việt T. Ngay sau khi ghe thu mua lúa do Liên Việt T đưa đến, tiến hành cân và nhận lúa của người dân, thì các ghe lúa này đã thanh toán đủ tiền lúa cho Liên Việt T. Tuy nhiên, Liên Việt T không thanh toán tiền mua lúa của các hộ dân như những lần trước đây, mà L Triều viện lý do Công ty T7 lúa chậm thanh toán, hẹn vài ngày sau sẽ thanh toán, nhằm chiếm đoạt tiền bán lúa của 10 hộ dân sau khi trừ tiền đặt cọc là 543.267.000đ, gồm: Nguyễn Văn C: 15.381.000đ; Võ Văn C1: 47.000.000đ; Phạm Thái P: 26.819.600đ; Nguyễn Thị D: 9.500.000đ; Nguyễn Minh C2: 27.846.400đ; Trần Thị N: 40.000.000đ; Lâm Văn T4: 32.000.000đ; Trần Minh T6: 41.982.000đ; Trần Văn Đ: 266.903.000đ; Nguyễn Hoàng K: 35.835.000đ.

- Chiếm đoạt tiền vay của ông Trần Quang T5:

Ngày 19/9/2022, Liên Việt T thỏa thuận vay của ông Trần Quang T5 500.000.000đ nhằm tất toán các khoản vay tại Ngân hàng S2, để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng làm thủ tục chuyển nhượng cho người khác lấy tiền thanh toán nợ và trả khoản vay của ông T5; tiếp đến ngày 20/9/2022, Liên Việt T tiếp tục thỏa thuận vay thêm của ông Trần Quang T5 100.000.000đ, lý do lãi và nợ xấu phát sinh nên 500.000.000đ đã vay của ông T5 không đủ trả Ngân hàng và được ông T5 đồng ý; đồng thời Liên Việt Triều viết giấy thỏa thuận vay của ông Trần Quang T5 tổng cộng là 600.000.000₫ và cam đoan sẽ tất toán khoản vay với Ngân hàng, lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp để làm thủ tục chuyển nhượng và hẹn 10 ngày sau nhằm ngày 30/9/2022 sẽ trả đủ tiền cho ông Trần Quang T5. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền của ông Trần Quang T5 thì Liên Việt T không thực hiện như thỏa thuận là tất toán khoản vay, chuyển nhượng đất cũng như trả tiền cho ông Trần Quang T5 mà lánh mặt khỏi địa phương, đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm ăn, sinh sống từ cuối tháng 9/2022, nhằm chiếm đoạt của ông Trần Quang T5 số tiền 600.000.000đ.

- Chiếm đoạt tiền đặt cọc mua lúa của ông Hồ Ngọc H:

Sau khi không còn hoạt động mua bán lúa và lánh mặt khỏi địa phương, ngày 01/11/2022 Liên Việt Triều hẹn ông Hồ Ngọc H đến quán H1 thuộc Phường A, thành phố B để làm hợp đồng bán lúa cho ông Hồ Ngọc H, nhằm chiếm đoạt tiền đặt cọc mua lúa của ông Hồ Ngọc H số tiền là 140.000.000đ.

Tổng số tiền bị cáo Liên Việt T chiếm đoạt là 1.283.267.000đ.

* Tại Kết luận giám định số 72/KL-KTHS, ngày 03/7/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận chữ viết và ký tên xác nhận trong giấy nhận nợ, như sau: chữ ký mang tên Liên Việt T trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 (giấy nợ) so với chữ ký đứng tên Liên Việt T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 (biên bản ghi lời khai có chữ viết, chữ ký của T) là do cùng một người viết ra; chữ viết “Liên Việt Triều” dưới chữ ký trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 (giấy nợ) so với chữ viết “Liên Việt Triều” dưới chữ ký, dưới mục: “NGƯỜI KHAI” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người viết ra.

* Tại Kết luận giám định số 112/KL-KTHS, ngày 09/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận chữ viết và ký tên xác nhận hợp đồng mua bán lúa giữa ông Hồ Ngọc H và Liên Việt T, như sau: chữ viết “Liên Việt Triều” dưới mục “BÊN BÁN” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (hợp đồng mua bán lúa) so với chữ viết “Liên Việt Triều” dưới mục: “NGƯỜI KHAI” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M (biên bản ghi lời khai có chữ viết, chữ ký của T) do cùng một người viết ra; Chữ ký mang tên Liên Việt T trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Liên Việt T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một người ký ra.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSTBL-P1 ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu (nay là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau) truy tố bị cáo Liên Việt T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

  • - Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • + Tuyên bố bị cáo Liên Việt T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    • + Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Liên Việt T từ 08 năm đến 09 năm tù.
  • Ngoài ra, đại viện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý về trách nhiệm dân sự và án phí theo quy định pháp luật.
  • - Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại.
  • - Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận do việc kinh doanh mua bán lúa bị thua lỗ, lợi dụng mối quan hệ quen biết và thường xuyên thu mua lúa của các hộ dân, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của họ bằng cách viện lý do Công ty thu mua lúa chậm thanh toán (thực tế đã thanh toán cho bị cáo), hẹn vài ngày sau sẽ thanh toán, nhưng sau đó bị cáo không thanh toán nhằm chiếm đoạt tiền bán lúa của 10 hộ dân số tiền là 543.267.000đ; đối với ông Trần Quang T5, bị cáo nói dối với ông T5 cho bị cáo vay số tiền tổng cộng 600.000.000 đồng mục đích để tất toán khoản vay với Ngân hàng, lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp để làm thủ tục chuyển nhượng và hẹn 10 ngày sau sẽ trả đủ tiền cho ông T5 làm cho ông T5 tin tưởng nên cho bị cáo vay tiền. Sau khi nhận tiền của ông T5 thì bị cáo không thực hiện như thỏa thuận là tất toán khoản vay, chuyển nhượng đất cũng như trả tiền cho ông T5 mà lánh mặt khỏi địa phương, nhằm chiếm đoạt của ông T5 số tiền nêu trên; đối với ông Hồ Ngọc H, sau khi không còn hoạt động mua bán lúa và lánh mặt khỏi địa phương, ngày 01/11/2022, bị cáo hẹn gặp ông H để làm hợp đồng bán lúa cho ông H, nhằm chiếm đoạt tiền đặt cọc mua lúa của ông H là 140.000.000₫.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất và phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, đồng thời phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2022, tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau), bị cáo Liên Việt T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt từ trước, dùng thủ đoạn gian dối nhiều lần chiếm đoạt tiền của nhiều người nhằm sử dụng vào mục đích cá nhân, với tổng số tiền chiếm đoạt là 1.283.267.000đ.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu (nay là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau) đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương, nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhiều lần và mỗi lần thực hiện hành vi đều thỏa mãn cấu thành tội phạm nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn xét xử tại Tòa án, gia đình bị cáo T đã nộp số tiền 130.000.000 đồng để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; đồng thời đã thỏa thuận bồi thường xong cho các bị hại Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị D và một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo có ông bà ngoại là người có công với cách mạng, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để răn đe, cải tạo đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với giấy biên nhận và giấy ghi nhận mua bán lúa thu giữ của các bị hại: Trần Văn Đ, Nguyễn Văn C, Trần Quang T5, Hồ Ngọc H... được đánh bút lục đưa vào hồ sơ vụ án nên không đặt ra xem xét.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, kiểu máy iphone 11 Pro Max số máy NWHH2VN/A; SỐ IMEI 1: 352861112532550, Số IMEI 2: 352861112731228; sim số 0944.077567, tình trạng sim không nghe gọi được; trên sim có số 898402000; 10967622838; mật khẩu đăng nhập 077567, do không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền cụ thể như sau: Võ Văn C1: 47.000.000đ; Phạm Thái P: 26.819.600đ; Nguyễn Minh C2: 27.846.400đ; Trần Thị N: 40.000.000đ; Lâm Văn T4: 32.000.000đ; Trần Minh T6: 41.982.000đ; Trần Văn Đ: 266.903.000đ; Nguyễn Hoàng K: 35.835.000đ; Trần Quang T5: 600.000.000đ; Hồ Ngọc H: 140.000.000đ. Tổng số tiền phải bồi thường là 1.258.386.000đ.

Đối với số tiền 130.000.000 đồng gia đình bị cáo nộp khắc phục sẽ được chuyển xử lý cho các bị hại trong giai đoạn thi hành án.

[8] Đối với hành vi của bị cáo về việc có nhận tiền cọc của ông Huỳnh Văn Đ1 số tiền 80.000.000đ và hành vi nhiều lần có mua lúa giống của ông Nguyễn Hoàng K1 còn nợ 31.940.000đ, đây là giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp. Ông Đ1, ông K1 có quyền khởi kiện yêu cầu bằng vụ việc dân sự khác.

[12] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[14] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Liên Việt T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Liên Việt T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 04/01/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Liên Việt T có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền cụ thể như sau:

Võ Văn C1: 47.000.000 đồng; Phạm Thái P: 26.819.600 đồng; Nguyễn Minh C2: 27.846.400 đồng; Trần Thị N: 40.000.000 đồng; Lâm Văn T4: 32.000.000 đồng; Trần Minh T6: 41.982.000 đồng; Trần Văn Đ: 266.903.000 đồng; Nguyễn Hoàng K: 35.835.000 đồng; Trần Quang T5: 600.000.000 đồng; Hồ Ngọc H: 140.000.000 đồng.

Đối với số tiền 130.000.000 đồng gia đình bị cáo nộp khắc phục theo biên lai thu tiền số 0000207 ngày 26/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau) sẽ được chuyển xử lý cho các bị hại trong giai đoạn thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Liên Việt T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, kiểu máy iphone 11 Pro Max, số máy NWHH2VN/A, số IMEI 1: 352861112532550, số IMEI 2: 352861112731228, sim số 0944.077567, tình trạng sim không nghe gọi được; trên sim có số 898402000; 10967622838; mật khẩu đăng nhập 077567. Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Thi hành án dân sự tỉnh C theo biển bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c, d, g khoản 1 Điều 23; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Buộc bị cáo Liên Việt T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 45.851.580 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Văn Đ3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 74/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger