TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:74/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 22/12/2025
“V/v ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Nhận; Bà Bùi Thị Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 275/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QÐST – HNGĐ ngày 04/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc A sinh năm 1988; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/4/2021; ĐKHKTT: Số nhà 15/70/88, V, phường L, TP Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Ngõ D, tổ A, Khu H Hồ X, phường H, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1980; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát đăng ký quản lý quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02/4/2021; ĐKHKTT và cư trú: Số nhà A V, phường L, TP Hải Phòng. (Vắng mặt).
*Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hồng C1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số nhà A, V, phường L, TP Hải Phòng.
Bà Lê Thị T, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ngõ D, tổ A, Khu H Hồ X, phường H, thành phố Hải Phòng.
Đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C kết hôn với nhau vào ngày 02/01/2006 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là phường L, thành phố Hải Phòng). Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh C tại địa chỉ 1 V, phường L, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Anh C thỉnh thoảng đánh đập và chửi bới xúc phạm chị. Vợ chồng sống cùng một nhà nhưng không quan tâm, chia sẻ với nhau. Từ tháng 11 năm 2020, chị đã chuyển ra ngoài sinh sống, anh C cũng có đến nhà trọ tìm và khuyên chị về chung sống cùng anh C chị cũng đồng ý quay về nhưng sau khi chị về cùng đoàn tụ cùng anh C thì mâu thuẫn không được giải quyết mà càng trầm trọng hơn, vì vậy chị lại tiếp tục ra ngoài sinh sống. Anh C nhiều lần đến tìm chị đề nghị quay về sống cùng anh C nhưng là trong tình trạng say xỉn, chửi bới nên chị kiên quyết không về chung sống cùng anh C. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C để chị ổn định cuộc sống.
- Về quan hệ con chung: Chị Ngọc A xác định giữa chị và anh C có 03 con chung là Nguyễn Đức T1, sinh ngày 01/01/2006; Nguyễn Đức T2, sinh ngày 07/8/2012 và Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 30/01/2018. Hiện nay cháu T1 đã trên 18 tuổi nên chị không yêu cầu giải quyết, còn cháu T2 và cháu L hiện đang sinh sống cùng chị, chị xin nuôi cả hai con và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Đức C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa trình bày quan điểm.
Người làm chứng ông Nguyễn Hồng C1 (bố đẻ anh C) trình bày:
Anh C và chị Ngọc A kết hôn với nhau vào năm 2006. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống cùng gia đình ông. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng anh chị thế nào ông không biết, chỉ biết cách đây khoảng 5 - 6 năm vợ chồng không chung sống với nhau, gia đình ông có công việc gọi chị Ngọc A cũng không về. Đến nay chị Ngọc A xin ly hôn, quan điểm của ông C1 đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng anh C, chị Ngọc A có 03 con chung, hiện nay cả 3 con đang ở với chị Ngọc A. Vợ chồng anh chị không có tài sản gì chung.
Anh C hiện nay vẫn sinh sống cùng ông, hàng ngày đi làm sáng đi tối về. Tòa án nhờ ông tống đạt các giấy tờ cho anh C do không liên quan đến việc ly hôn của anh chị nên ông nhận thay cho anh C.
Người làm chứng là Lê Thị T (mẹ đẻ chị Ngọc A) trình bày: Bà là mẹ đẻ chị Ngọc A và là mẹ vợ anh C. Quá trình chung sống vợ chồng chị Ngọc A và anh C sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Anh C còn thường xuyên uống rượu về đánh đập xúc phạm chửi bới chị Ngọc A. Từ khoảng tháng 11 năm 2020 đến nay chị Ngọc A đã chuyển ra ngoài sinh sống, anh C có đến tìm chị Ngọc A về sinh sống, chị Ngọc A cũng về chung sống cùng anh C nhưng chỉ được thời gian ngắn vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn, chị Ngọc A lại ra thuê nhà trọ ở. Nay chị Ngọc A xin ly hôn, quan điểm của bà T do anh chị tự quyết định. Quá trình chung sống chị Ngọc A và anh C có 03 con chung và không có tài sản gì chung.
Xác minh với ông Trần Văn H – Tổ phó tổ dân phố số B, phường L, thành phố Hải Phòng trình bày:
Anh C và chị Ngọc A là vợ chồng, anh C hiện cư trú tại tổ dân phố số B, phường L, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống tại khu dân cư vợ chồng sinh được 03 con chung, cách đây khoảng 5 – 6 năm vợ chồng không chung sống cùng nhau. Về mâu thuẫn cụ thể của anh chị thế nào khu không nắm được. Chị Ngọc A xin ly hôn anh C đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Tại phiên toà: Nguyên đơn chị Ngọc A có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C; Chị Ngọc A xin nhận nuôi con Nguyễn Đức T2, sinh ngày 07/8/2012 và Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 30/01/2018, tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Chị Ngọc A xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt: BLTTDS). Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228,khoản 2 Điều 229, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 -12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị Ngọc A ly hôn anh Nguyễn Đức C. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc A tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Đức T2, sinh ngày 07/8/2012 và Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 30/01/2018 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ngọc A không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết; Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Đức C đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại số nhà A V, phường L, thành phố Hải Phòng. Theo công văn trả lời số 3833/XNC - Đ1 ngày 17/11/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an thành phố H thì không có thông tin xuất nhập cảnh của anh C. Vì vậy, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 8 - Hải Phòng.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc A vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Ngọc A theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Đức C trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C tại địa chỉ nơi cư trú nhưng anh C không đến Tòa án tham gia tố tụng. Anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai trực tiếp với Tòa án. Căn cứ khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc A và anh Nguyễn Đức C kết hôn năm 2006 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H (nay là phường L, thành phố Hải Phòng) là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị Ngọc A trình bày là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh C không quan tâm đến gia đình, vợ chồng sống ly thân cách đây khoảng 05 năm, chị đã ra ngoài thuê nhà trọ ở, trong thời gian sống ly thân vợ chồng mỗi người đều có công việc riêng, không quan tâm đến nhau.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh C đến Tòa để trình bày quan điểm về việc ly hôn, nhưng anh C không có mặt, không có quan điểm xin hòa giải, điều này chứng tỏ anh C không mong muốn đoàn tụ, không có biện pháp cải thiện tình trạng vợ chồng.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Ngọc A và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngọc A, xử chị Nguyễn Thị Ngọc A ly hôn anh Nguyễn Đức C là phù hợp quy định pháp luật để hai bên ổn định cuộc sống.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Ngọc A và anh C có 03 con chung là Nguyễn Đức T1, sinh ngày 01/01/2006; Nguyễn Đức T2, sinh ngày 07/8/2012 và Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 30/01/2018. Hiện nay cháu T1 đã trưởng thành chị Ngọc A không đề nghị giải quyết. Chị Ngọc A xin nhận nuôi con Nguyễn Đức T2 và Nguyễn Ngọc Mai L và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy: Cháu T2 và cháu L hiện đang ở cùng chị Ngọc A và có quan điểm xin ở với mẹ. Chị Ngọc A hiện đi làm công nhân có mức lương và thu nhập ổn định, có thời gian và điều kiện chăm sóc cho cả hai con. Do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Đức T2 và Nguyễn Ngọc Mai L cho chị Ngọc A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ngọc A không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Chị Ngọc A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa trình bày quan điểm về tài sản chung, nợ chung. Nếu sau này anh C có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án hôn nhân gia đình khác.
[2.4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc A phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc A, xử chị Nguyễn Thị Ngọc A ly hôn với anh Nguyễn Đức C.
2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc A tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung là Nguyễn Đức T2, sinh ngày 07/8/2012 và Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 30/01/2018 cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ngọc A không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Ngọc A đã nộp theo biên lai thu số 0002777 ngày 30/9/2025 tại thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Ngọc A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu |
Bản án số 74/2025/HNGĐ - ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 74/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ngọc Anh xin ly hôn anh Công
