|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN Bản án số: 73/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 9 - 2025 “V/v: Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------------------------------------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Anh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu và bà Phan Kim Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Khắc Tân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Nhật Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 153/2025/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 về việc “ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981;
Nơi đăng ký thường trú: khối A, phường V (trước đây là phường Q), tỉnh Nghệ An; Địa chỉ cư trú hiện nay: H. Str. 1A. 68766 H, CHLB Đ. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương N, sinh năm: 1979; Địa chỉ: khối A L, phường T, tỉnh Nghệ An (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu theo giấy ủy quyền ngày 13/8/2025).
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân M, sinh năm 1990;
Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: số A đường T, khối C Đội C, phường T, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ hiện nay: Cộng hòa H. Vắng mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm: 1956; Địa chỉ: số A đường T, khối C Đội C, phường T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong “Đơn khởi kiện” ngày 01/8/2025; Bản tự khai ngày 29/8/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và và anh Nguyễn Xuân M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại T2 tại Frankfurt am M2, CHLB Đ vào ngày 11/01/2024. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Thời gian đầu thì vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, sau này do anh M không làm thủ tục giấy tờ ở CHLB Đ được nên vợ chồng sống xa nhau, cuộc sống xa cách nên vợ chồng ít liên lạc với nhau, vợ chồng không còn quan tâm nhau, mỗi lần gọi điện nói chuyện vợ chồng đều cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng. Hiện nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân M để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Xuân M vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 3725/PA08-Đ1 ngày 10/9/2025 của Phòng Q – Công an tỉnh N thì: Anh Nguyễn Xuân M, sinh ngày 14/4/1990; Trú tại: phường T, Nghệ An đã được cấp hộ chiếu số C8684405 và sử dụng để xuất cảnh ngày 02/8/2022 qua cửa khẩu T3, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, sau khi thụ lý, Tòa án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, công văn đề nghị gia đình anh M cung cấp thông tin, địa chỉ của anh M ở nước ngoài, quyết định đưa vụ án ra xét xử... nhưng anh M vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Tại các “Bản tự khai” đề ngày 13/8/2025 và ngày 15/9/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Xuân T1 trình bày: Ông đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án. Ông cam đoan sẽ gửi và thông tin các nội dung của các thông báo này cho anh M. Đối với văn bản của Tòa án yêu cầu ông cung cấp địa chỉ của anh M. Ông có ý kiến như sau: Anh Nguyễn Xuân M, sinh ngày 14/4/1990 là con của ông với bà Nguyễn Thị H. Anh M xuất khẩu lao động vào khoảng tháng 8/2022, nước đi xuất khẩu lao động là Cộng hòa Hungari. Sau khi anh M sang H làm việc thì anh M với ông và bà H có liên lạc với nhau thường xuyên qua mạng xã hội Messenger hàng tuần, hàng tháng. Anh M1 hiện nay không có chỗ ở ổn định lúc thì ở Cộng hòa S, lúc thì ở H nên ông không biết địa chỉ cụ thể. Do không ở cụ thể địa chỉ nên anh M1 cũng không xin được xác nhận của Cơ quan đại diện của Việt Nam tại Cộng hòa H hoặc Cộng hòa Séc. Về việc kết hôn giữa anh M1 và chị T thì ông chỉ nghe anh M1 trao đổi qua mạng Messenger. Nay chị T làm đơn xin ly hôn đối với anh M1 thì ông không có ý kiến gì, việc kết hôn của các con và việc ly hôn là do các con tự quyết định. Ông cam đoan sẽ gửi và thông tin các yêu cầu của Tòa án gửi cho anh M1. Anh M1 biết việc chị T làm đơn xin ly hôn và anh M1 cũng đồng ý ly hôn với chị T nhưng do điều kiện ở xa nên không thể về Việt Nam để giải quyết việc ly hôn với chị T được nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Xuân M.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung, không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Xuân M. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường V, tỉnh Nghệ An còn anh M có nơi cư trú tại số A đường T, khối C Đội C, phường T, tỉnh Nghệ An nhưng từ khoảng năm 2022 thì anh M đã đi xuất khẩu lao động ở Hungari đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án và các Điều 122, 123 và 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn. Đối với bị đơn anh Nguyễn Xuân M, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, anh M hiện nay vẫn đăng ký thường trú tại khối C Đội C, phường T, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Cộng hòa H từ năm 2022, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ nơi cư trú hiện nay. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ anh M ở nước ngoài nhưng theo ông Nguyễn Xuân T1 thì anh M tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Xuân M.
[3]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân M được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại T2 tại Frankfurt am M2, CHLB Đ vào ngày 11/01/2024 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng sống xa nhau thời gian dài nên tình cảm ngày càng mất mát. Quá trình giải quyết vụ án, anh M lại không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã ly thân mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị T cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị T yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[3.2]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng chưa có con chung, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị T không yêu cầu Toà án giải quyết, anh M cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[4]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Các Điều 51, 56, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân M.
- Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân M không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0005145 ngày 11/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Nghệ An.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn như sau: chị Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Xuân T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Xuân M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Anh Sơn |
Bản án số 73/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 73/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị T và anh Minh thống nhất ly hôn nhưng do anh M vắng mặt tại phiên tòa
