Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/DS-ST

Ngày: 30 - 9 - 2025

“V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Hoàng
  2. Ông Nguyễn Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 279/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QÐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K

Trụ sở chính: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là 40-42-44 Phạm Hồng T, phường R, tỉnh An Giang).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H; Chức vụ: Phó giám đốc phòng xử lý nợ. Theo văn bản ủy quyền số 68/QĐ-CT.HĐQT ngày 09 tháng 7 năm 2024.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Tô Ngã Vang C; Chức vụ: Chuyên viên chính xử lý nợ khu vực và ông Huỳnh Minh Đ; Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ thẻ và tài chính vi mô. Cùng địa chỉ liên hệ: Số D T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là số D T, Khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau). Theo văn bản ủy quyền số 2367/QĐ – NHKL ngày 21 tháng 8 năm 2024.

Bị đơn: Ông Phan Văn G, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp L, xã Đ, tỉnh Cà Mau). Hiện nay ông Phan Văn G đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam C1 về tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

(Ông Huỳnh Minh Đ có mặt; ông Tô Ngã Vang C vắng mặt, ông Phan Văn G xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K là ông Huỳnh Minh Đ, trình bày: Vào ngày 02/12/2016, ông Phan Văn G có ký giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 11/16/TC/0201-06029-TCBS) 20016336000330 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (sau đây gọi là Ngân hàng). Căn cứ vào mức thu nhập thực tế của ông G, Ngân hàng đã phê duyệt vào ngày 07/12/2016 và cấp thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Thời hạn vay là 36 tháng, ngày đến hạn là 31/12/2019. Lãi suất vay theo mức lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh theo như cam kết nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 31/12/2019. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở và yêu cầu ông G thanh toán nợ nhưng ông G vẫn không thực hiện. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông G thanh toán cho Ngân hàng số tiền 165.784.075 đồng, trong đó nợ gốc 35.399.754 đồng; lãi phát sinh còn lại 57.884.580 đồng; phí phạt chậm trả còn lại 46.449.268 đồng; phí phạt vượt hạn mức còn 26.050.473 đồng tính đến ngày 30/09/2025 và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từ ngày 01/10/2025 cho đến ngày thanh toán hết nợ.

Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng có yêu cầu xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể Ngân hàng không tiếp tục yêu cầu ông G thanh toán số tiền phí phạt chậm trả còn lại là 46.449.268 đồng. Nay Ngân hàng chỉ yêu cầu ông G thanh toán cho Ngân hàng số tiền 119.334.807 đồng, bao gồm tiền nợ gốc là 35.399.754 đồng, tiền lãi phát sinh còn lại 57.884.580 đồng và phí phạt vượt hạn mức là 26.050.473 đồng, số tiền được tạm tính đến ngày 30/9/2025 và yêu cầu ông G phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từ ngày 01/10/2025 cho đến ngày thanh toán hết nợ.

Bị đơn ông Phan Văn G trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/9/2025: Ông Phan Văn G thừa nhận đã ký giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số (00011/16/TC/0201-06029-TCBS) 20016336000330 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và đã được Ngân hàng cấp tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng. Mục đích vay để tiêu dùng cá nhân.

Do điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn, đồng thời hiện nay ông G đang chấp hành án phạt tù thời hạn 14 năm tại Trại giam C1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên chưa có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên ông G đồng ý thanh toán toàn bộ số nợ theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Phan Văn G phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2025 là 119.334.807 đồng, bao gồm tiền nợ gốc là 35.399.754 đồng, tiền lãi phát sinh còn lại 57.884.580 đồng; phí phạt vượt hạn mức là 26.050.473 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từ ngày 01/10/2025 cho đến ngày thanh toán hết nợ. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng rút yêu cầu ông G thanh toán số tiền phí phạt chậm trả còn lại là 46.449.268 đồng, xét sự tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 5, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên đình chỉ đối với yêu cầu này. Về án phí, ông Phan Văn G phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại cổ phần K (sau đây viết tắt là Ngân hàng) nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ông Phan Văn G thanh toán tiền nợ vay theo Hợp đồng tín dụng; đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về hợp đồng tín dụng theo quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế K1 thể hiện ông Phan Văn G có địa chỉ tại ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp L, xã Đ, tỉnh Cà Mau) nên Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Ông Phan Văn G ký giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế K1 (sau đây gọi là: Hợp đồng) vào ngày 02/12/2016, được phê duyệt ngày 07/12/2016. Thời hạn sử dụng thẻ là 36 tháng, tính theo kỳ thanh toán thì đến ngày 31/12/2019 là hết thời hạn thanh toán hợp đồng. Nhưng đến ngày 06/5/2025, Ngân hàng mới nộp đơn khởi kiện là hết thời hiệu 03 năm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”. Xét thấy, từ khi thụ lý vụ án đến khi vụ án được đưa ra xét xử, ông G không có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án.

[1.3] Về pháp luật áp dụng: Ông Phan Văn G ký hợp đồng với Ngân hàng vào ngày 02/12/2016, được phê duyệt vào ngày 07/12/2016. Hợp đồng này được các bên giao kết tại thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành. Tại điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11giải quyết”. Như vậy, khi giải quyết vụ án này cần phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật.

[1.4] Ông Phan Văn G có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Phan Văn G.

Xét thấy vụ án này Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ. Căn cứ khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp này Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau phải tham gia phiên tòa theo quy định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông G thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2025 là 165.784.075 đồng, trong đó nợ gốc 35.399.754 đồng; lãi phát sinh còn lại 57.884.580 đồng; phí phạt chậm trả còn lại 46.449.268 đồng; phí phạt vượt hạn mức còn 26.050.473 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từ ngày 01/10/2025 cho đến ngày thanh toán hết nợ.

Tuy nhiên tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không tiếp tục yêu cầu ông G thanh toán số tiền phí phạt chậm trả còn lại là 46.449.268 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 5, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, có lợi cho bị đơn nên cần được chấp nhận và đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn.

[2.2] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng cung cấp giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 00011/16/TC/0201-06029-TCBS) 20016336000330 mà ông Phan Văn G đã ký với Ngân hàng vào ngày 02/12/2016, được phê duyệt vào ngày 07/12/2016 thể hiện Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông G với hạn mức 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất vay được tính theo lãi suất cho vay của Ngân hàng theo từng thời kỳ. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh theo như cam kết nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 31/12/2019.

Quá trình làm việc, ông G thừa nhận khoản vay trên và đồng ý thanh toán cho Ngân hàng nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào bảng kê tính lãi, phí thẻ tín dụng do Ngân hàng cung cấp, tính đến ngày 30/9/2025, Ngân hàng yêu cầu ông G thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 119.334.807 đồng, bao gồm tiền nợ gốc là 35.399.754 đồng, tiền lãi phát sinh còn lại 57.884.580 đồng; phí phạt vượt hạn mức là 26.050.473 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từ ngày 01/10/2025 cho đến ngày thanh toán hết nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 290, 305, 471, 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc ông Phan Văn G có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nêu trên.

[2.3] Ngân hàng chỉ yêu cầu ông Phan Văn G thanh toán nợ vay cho Ngân hàng do một mình ông G đứng tên vay trên hợp đồng, không yêu cầu ai khác cùng ông G có trách nhiệm thanh toán nợ vay nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông Phan Văn G được chấp nhận nên ông G phải chịu 5% trên số tiền ông G có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng, bằng 5% x 119.334.807 đồng = 5.966.740 đồng.

Ngân hàng không phải chịu án phí, Ngân hàng đã nộp 3.925.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006855 ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cà Mau) được hoàn lại.

[4] Các quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa, như đã phân tích là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 184, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 688 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 290, 305, 471, 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K đối với ông Phan Văn G về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc ông Phan Văn G có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền gốc, lãi, phí tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2025 là 119.334.807 đồng (một trăm mười chín triệu ba trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm lẻ bảy đồng), trong đó nợ gốc 35.399.754 đồng (ba mươi lăm triệu ba trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng), tiền lãi phát sinh còn lại 57.884.580 đồng (năm mươi bảy triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm tám mươi đồng); phí phạt vượt hạn mức là 26.050.473 đồng (hai mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn bốn trăm bảy mươi ba đồng) và các khoản phí, lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 cho đến khi ông Phan Văn G thanh toán xong nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã ký.

3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đối với ông Phan Văn G về số tiền phí phạt chậm trả còn lại là 46.449.268 đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn hai trăm sáu mươi tám đồng).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Phan Văn G phải nộp số tiền 5.966.740 đồng (năm triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm bốn mươi đồng). Ngân hàng Thương mại cổ phần K không phải chịu án phí, Ngân hàng Thương mại cổ phần K đã nộp 3.925.000 đồng (ba triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006855 ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cà Mau) được hoàn lại.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

 

Huỳnh Ngọc Nhiều

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND Khu vực 8 – Cà Mau;
  • - THADS tỉnh Cà Mau;
  • - Phòng THADS Khu vực 8 – Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

Điều 155. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:

  1. Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
  2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
  3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
  4. Trường hợp khác do luật quy định.

Đối với nợ gốc ngân hàng yêu cầu thanh toán thì không áp dụng thời hiệu theo Điều 429 BLDS năm 2015 đối với thời hiệu của hợp đồng là 3 năm khi ngân hàng khởi kiện, nếu ngân hàng có khởi kiện vừa gốc vừa lãi thì lần sau nhận định tách ra. Vấn đề nợ gốc không tính thời hiệu khởi kiện có quy định trong giải đáp 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của TANDTC.

Trích Giải đáp 02/2021

2. Ông A vay của Ngân hàng 01 tỷ đồng, thời hạn vay 01 tháng kể từ ngày 02-01-2017, lãi suất 2% tháng. Sau thời hạn 01 tháng ông A không trả được nợ gốc và lãi. Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày 03-02-2017 đến ngày 03-02-2020, Ngân hàng không khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ. Đến nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông A trả nợ thì ông A có được quyền yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc hay không?

Theo quy định Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

Căn cứ quy định nêu trên thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đã hết. Tuy nhiên, theo quy định khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp "yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác". Do đó, Ngân hàng có thể khởi kiện ông A yêu cầu đòi lại tài sản (nợ gốc) và Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án mà không phụ thuộc vào việc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc hay không.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 72/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 72/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HDTD
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger