TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2025/HS-ST Ngày: 29/9/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Thái
2. Ông Trần Văn Vinh
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2025/TLST-HSST ngày 19/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-HS ngày 19/9/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/11/1990, tại Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La; Chỗ ở: không nơi cư trú nhất định. Căn cước công dân số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12. Họ và tên bố: Lò Văn N1 - sinh năm: 1956; Họ và tên mẹ: Lò Thị C- sinh năm: 1958; Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư;
Tiền án, tiền sự: Không
Danh chỉ bản số 2424 lập ngày 26/8/2025 tại PC11B
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/8/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 20/8/2025, Tổ công tác Công an xã N làm nhiệm vụ tại khu vực khu Công nghiệp N, xã N, Hà Nội phát hiện Lò Văn N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qúa trình kiểm tra, Tổ công tác thu giữ 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng trong túi quần phía sau bên phải đang mặc của N, N khai nhận là ma túy loại Heroine, N mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, thu giữ tang vật đồng thời đưa N về trụ sở làm rõ.
Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của Lò Văn N xác định: Nam dương tính với ma túy Heroine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn N. Tại Bản kết luận giám định số 4950/KLGĐ-PC09 ngày 15/9/2025 của phòng K - Công an thành phố H kết luận: " Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy có khối lượng 0,211 gam là ma túy Heroine”. Cơ quan giám định đã sử dụng 0,016 gam trong tổng số 0,211 gam Heroine đã thu giữ của N để làm mẫu giám định, còn lại 0,195 gam Heroine hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H.
Quá trình điều tra, Lò Văn N khai nhận: Khoảng 12 giờ cùng ngày N đi bộ đến khu công nghiệp N, xã N để tìm mua ma túy, tại đây N gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó N cất gói ma túy vừa mua được trong túi quần phía sau bên phải đang mặc của N để đi tìm nơi sử dụng, khi N đi ra phía sau khu công nghiệp N, Hà Nội chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã N bắt giữ cùng tang vật.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy, N khai không biết tên tuổi và địa chỉ. Kết quả dẫn giải, Nam xác định được nơi mua ma túy tại khu vực khu công nghiệp N, xã N nhưng không xác định được người đàn ông bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS-TT ngày 18/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội đã truy tố Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong Cáo trạng.
Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Lò Văn N mức án từ: 36 tháng đến 38 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 20/8/2025, tại khu công nghiệp N, xã N, Lò Văn N đang tàng trữ trái phép 01 gói nilon có trọng lượng 0,211 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác công an xã N kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của Lò Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- 3.1. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- 3.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trong xã hội, được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của ma túy nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;
P nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn N 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2025.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì sau giám định của Phòng P1 được niêm phong dán kín, tại mép dán có các chữ ký niêm phong của Giám định viên Nguyễn Hoàng H, cán bộ Công an xã N Lê Đình T và đối tượng Lò Văn N (còn nguyên niêm phong, không kiểm tra chi tiết bên trong) của đối tượng Lò Văn N, SN: 1990, HKTT: Bản Nong Quỳnh, M, Sơn La. Số vật chứng trên được lưu giữ tại Thi hành án dân sự Khu vực 11 – Hà Nội theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/9/2025 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 – Hà Nội
- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM: | |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| NGUYỄN VĂN THẮNG | |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
NGUYỄN VĂN THẮNG |
Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 70/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
