|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH Bản án số: 70/2025/HS-ST Ngày: 29-9-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mai Thị Kim Thanh;
- Ông Bùi Duy Thấm;
- - Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Hồ Phú V, sinh ngày 17/3/1986, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKTT và nơi cư trú hiện nay: Ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Phú M và bà Mai Thị B (đã chết tháng 4/2025); có vợ tên: Trần Thị Ánh T và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 05/4/1994; nơi cư trú: Ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh (bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi) có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ B, ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 5 năm 2015, Hồ Phú V và Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1994, cùng cư trú tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh), V biết Nguyễn Thị Tuyết N là người bị bệnh chậm phát triển trí tuệ, hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên V đã thực hiện hành vi giao cấu với N, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 5 năm 2015, Nguyễn Thị Tuyết N đi bộ một mình qua nhà ba vợ của Hồ Phú V thuộc ấp C, xã T để chơi, lúc này V cũng có mặt. Trong lúc Như đang chơi ở bên hông nhà, V quan sát thấy xung quanh không có người nên đi đến và đứng đối diện N dùng tay sờ vào âm đạo của Như thấy Như không phản ứng gì, V hỏi “đi ra đây chơi không?” thì Như gật đầu, sau đó V dẫn N đi ra khu đất trống phía sau nhà của ba vợ V và nhà của Như, nơi này có nhiều cây cỏ và cây dại mộc um tùm, không bị người khác phát hiện. Tại đây, V đã thực hiện hành vi giao cấu với N khoảng 10 phút thì xuất tinh, sau đó cả hai đi về.
Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất khoảng hơn 10 ngày, V đang đứng trước nhà nhìn thấy N nên đưa tay chỉ ra phía sau khoảng giữa khu đất trống phía sau nhà của ba vợ V và nhà của Như thuộc ấp C, xã T, nơi V và Như đã quan hệ lần đầu. Như thấy như vậy thì gật đầu, sau đó V và N đi ra khoảng giữa khu đất trồng phía sau nhà của ba vợ bị can V và nhà của N. Tại đây, V đã thực hiện hành vi giao cấu với N khoảng 10 phút thì xuất tinh, sau đó cả hai tự đi về nhà.
Khoảng 01 tháng sau, ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973, ngụ ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh là cha ruột của N thấy con gái mình có biểu hiện bất thường nên đưa Như đi khám và phát hiện có thai. Tuy nhiên, ông H không trình báo sự việc đến cơ quan chức năng mà yêu cầu V nhận và nuôi con sau khi N sinh ra, đồng thời không được giao cấu với Như nữa thì V đồng ý. Ngày 21/6/2016, N sinh một bé trai đặt tên là Hồ Như Ý sau đó, V nhận đem về nuôi.
Đến ngày 17/11/2016, ông Nguyễn Văn H phát hiện Như có biểu hiện mang thai, nghi ngờ V tiếp tục giao cấu với Như nên đã làm đơn tố cáo V đến Công an xã T để xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, Hồ Phú V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi giao cấu nhiều lần với bị hại Như làm Như có thai lần đầu và sinh con. Đối với việc bị hại Như mang thai lần thứ hai thì bị can V không thừa nhận đã thực hiện hành vi giao cấu với bị hại Như làm Như có thai.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 19/2017/TD ngày 14/3/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận đối với Nguyễn Thị Tuyết N: Màng trinh rách cũ nhiều chỗ, hiện tại có 01 thai sống ngôi di động khoảng 26-27 tuần.
* Tại Kết luận giám định số: 2170/C54B ngày 16/8/2017, của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Bộ C, kết luận:
- + Nguyễn Thị Tuyết N là mẹ ruột của Hồ Như Ý và bé trai sinh ngày 05/6/2017 có mẫu gửi giám định.
- + Hồ Phú V là cha ruột của Hồ Như Ý với xác suất 99,999998%.
- + Hồ Phú V không phải là cha ruột của bé trai sinh ngày 05/6/2017 có mẫu gửi đến giám định.
* Kết luận giám định Pháp y tâm thần số: 164/2017/TD ngày 14/3/2017, của Viện pháp y tâm thần Trung ương B1 thuộc Bộ Y, kết luận đối với Nguyễn Thị Tuyết N:
- - Về y học:
- + Trước, trong, sau khi bị hại và hiện nay: Đương sự bị bệnh chậm phát triển trí tuệ mức độ trung bình (F71-ICD.10).
- - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm bị hại và hiện nay đương sự bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.
- * Vật chứng đang tạm giữ: Không có.
- * Trách nhiệm dân sự: Sau khi bị hại Như sinh con đặt tên Hồ Như Ý thì bị cáo Hồ Phú V đã nhận đem về nuôi cho đến nay. Đại diện hợp pháp cho bị hại Như không yêu cầu bị can V bồi thường tiền danh dự, nhân phẩm.
Đối với việc Nguyễn Thị Tuyết N mang thai và sinh một bé trai vào ngày 05/6/2017. Kết luận giám định Gen (ADN) xác định bị can Hồ Phú V không phải là cha ruột đến nay chưa xác định được đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tách vụ việc này để xử lý ở một vụ án khác.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với chị Nguyễn Thị Tuyết N tại khu đất trống phía sau nhà của ba vợ V và nhà của Như, tổng cộng 02 lần như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh đã nêu và bị cáo còn khai lần sau cùng thực hiện hành vi quan hệ tình dục với chị N có thai và sinh con ra chết.
Bản Cáo trạng số 57/CT-VKSTC ngày 14-9-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Hồ Phú V về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 141 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hồ Phú V về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 141; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Phú V từ 07 năm đến 08 năm tù, về tội “Hiếp dâm”.
Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường tiền danh dự, nhân phẩm.
Bị cáo Hồ Phú V không tranh luận.
Ông Nguyễn Văn H không tranh luận và không có ý kiến gì thêm.
Bị cáo không nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị điều tra, bị cáo rất hối hận, biết lỗi do bản thân gây ra nên xin lỗi bị hại cùng gia đình bị hại và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai thu thập tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định: Trong tháng 5 năm 2016, tại khu đất trống phía sau nhà của ba vợ bị cáo V và nhà của Như, thuộc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh), bị cáo Hồ Phú V là người có đủ năng lực hành vi dân sự, biết rõ chị Nguyễn Thị Tuyết N là người bị bệnh mất khả năng nhận thức, không thể tự bảo vệ được và lợi dụng khi ông Nguyễn Văn H là cha ruột của chị N vắng nhà, V đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với chị Nguyễn Thị Tuyết N 02 lần.
[3] Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần số: 164/2017/TD ngày 14/3/2017, của Viện pháp y tâm thần Trung ương B1 thuộc Bộ Y, kết luận đối với Nguyễn Thị Tuyết N:
- - Về y học: Trước, trong, sau khi bị hại và hiện nay, chị N bị bệnh chậm phát triển trí tuệ mức độ trung bình (F71-ICD.10).
- - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm bị hại và hiện nay, chị N bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại Công văn số 253/VPYTW-KHTH, ngày 24/4/2025 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B1, giải thích: Chậm phát triển tâm thần là một một nhóm bệnh lý có bệnh cảnh lâm sàng giống nhau, thể hiện sự sa sút tâm thần bẩm sinh hay mắc phải trong những năm đầu thời kỳ thơ ấu. Như vậy thời gian khoảng đầu tháng 5/2015 đối tượng (Nguyễn Thị Tuyết N) đã bị chậm phát triển tâm thần. Căn cứ Quyết định số 4293/QĐ- BYT ngày 19/09/2019 của Bộ Y “Về việc ban hành tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, kết luận giám định pháp y tâm thần đối với 70 bệnh/rối loạn tâm thần và hành vi thường gặp”. Khoảng đầu tháng 05/2015 đối tượng (Nguyễn Thị Tuyết N) có bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
[4] Bị cáo Hồ Phú V thực hiện hành vi phạm tội vào tháng 5/2016 khi Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên căn cứ vào khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 truy tố bị cáo V là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hồ Phú V phạm tội “Hiếp dâm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 141 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[5] Hành vi của bị cáo Hồ Phú V là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của chị N cũng như của những người hạn chế khả năng nhận thức, được pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của chị N cùng gia đình nên phải chịu trách nhiệm hình sự do chính bị cáo gây ra.
[6] Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo V:
- [6.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện nhận cháu Hồ Như Ý về nuôi cho đến nay nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [6.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo V, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử phạt hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn H là người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với việc Nguyễn Thị Tuyết N mang thai và sinh một bé trai vào ngày 05/6/2017. Kết luận giám định Gen (ADN) xác định bị cáo Hồ Phú V không phải là cha ruột của cháu bé và đến nay chưa xác định được đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tách vụ việc này ra để xử lý một vụ án khác là phù hợp với quy định tại Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra không thu giữ nên không đặt ra giải quyết.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Phú V là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 141; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Phú V 07 (bảy) năm tù, về tội “Hiếp dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Tuyết N cùng ông Nguyễn Văn H là người đại diện hợp pháp của chị N không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Phú V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hồ Phú V, chị Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thanh Quốc |
6
7
Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH về hình sự (hiếp dâm)
- Số bản án: 70/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hiếp dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng tháng 5 năm 2015, Hồ Phú Vinh và Nguyễn Thị Tuyết Như, sinh năm 1994, cùng cư trú tại ấp Cây Cầy, xã Tân Hòa, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp Cây Cầy, xã Tân Hòa, tỉnh Tây Ninh), Vinh biết Nguyễn Thị Tuyết Như là người bị bệnh chậm phát triển trí tuệ, hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên Vinh đã thực hiện hành vi giao cấu với Như, cụ thể: Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 5 năm 2015, Nguyễn Thị Tuyết Như đi bộ một mình qua nhà ba vợ của Hồ Phú Vinh thuộc ấp Cây Cầy, xã Tân Hòa để chơi, lúc này Vinh cũng có mặt. Trong lúc Như đang chơi ở bên hông nhà, Vinh quan sát thấy xung quanh không có người nên đi đến và đứng đối diện Như dùng tay sờ vào âm đạo của Như thấy Như không phản ứng gì, Vinh hỏi “đi ra đây chơi không?” thì Như gật đầu, sau đó Vinh dẫn Như đi ra khu đất trống phía sau nhà của ba vợ Vinh và nhà của Như, nơi này có nhiều cây cỏ và cây dại mộc um tùm, không bị người khác phát hiện. Tại đây, Vinh đã thực hiện hành vi giao cấu với Như khoảng 10 phút thì xuất tinh, sau đó cả hai đi về. Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất khoảng hơn 10 ngày, Vinh đang đứng trước nhà nhìn thấy Như nên đưa tay chỉ ra phía sau khoảng giữa khu đất trống phía sau nhà của ba vợ Vinh và nhà của Như thuộc ấp Cây Cầy, xã Tân Hòa, nơi Vinh và Như đã quan hệ lần đầu. Như thấy như vậy thì gật đầu, sau đó Vinh và Như đi ra khoảng giữa khu đất trồng phía sau nhà của ba vợ bị can Vinh và nhà của Như. Tại đây, Vinh đã thực hiện hành vi giao cấu với Như khoảng 10 phút thì xuất tinh, sau đó cả hai tự đi về nhà. Khoảng 01 tháng sau, ông Nguyễn Văn Hai, sinh năm 1973, ngụ ấp Cây Cầy, xã Tân Hòa, tỉnh Tây Ninh là cha ruột của Như thấy con gái mình có biểu hiện bất thường nên đưa Như đi khám và phát hiện có thai. Tuy nhiên, ông Hai không trình báo sự việc đến cơ quan chức năng mà yêu cầu Vinh nhận và nuôi con sau khi Như sinh ra, đồng thời không được giao cấu với Như nữa thì Vinh đồng ý. Ngày 21/6/2016, Như sinh một bé trai đặt tên là Hồ Như Ý sau đó, Vinh nhận đem về nuôi. Đến ngày 17/11/2016, ông Nguyễn Văn Hai phát hiện Như có biểu hiện mang thai, nghi ngờ Vinh tiếp tục giao cấu với Như nên đã làm đơn tố cáo Vinh đến Công an xã Tân Hòa để xử lý theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, Hồ Phú Vinh đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi giao cấu nhiều lần với bị hại Như làm Như có thai lần đầu và sinh con. Đối với việc bị hại Như mang thai lần thứ hai thì bị can Vinh không thừa nhận đã thực hiện hành vi giao cấu với bị hại Như làm Như có thai.
