Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 698/2025/HS-PT

Ngày 13-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

  • - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

    Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;

    Ông Nguyễn Thanh Tùng.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 489/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Ngô Trần M, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Bị cáo có kháng cáo: Ngô Trần M, sinh năm 1999, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T và bà Trần Thị Ngọc Y; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • - Người bào chữa cho bị cáo Ngô Trần M: Ông Nguyễn Ngọc H - Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh N và Ngô Trần M có mối quan hệ quen biết nhau.

Ngày 22/7/2024, Nguyễn Thanh N điện thoại qua ứng dụng Messenger hỏi Q (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, Q đồng ý và N nói khi nào N liên hệ thì giao ma túy tại gần phòng trọ của N.

Khoảng 08 giờ ngày 23/7/2024, N được bạn là Trần Tuấn A chở đi phỏng vấn xin việc làm. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, N chở Trần Tuấn A đến quán C thuộc tổ H, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố H) thì Trần Tuấn A quay về phòng trọ. Lúc này, N gọi điện thoại cho Ngô Trần M ra quán cà phê uống nước thì M đồng ý. Sau đó, N điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Q nói giao ma túy đến cho N (đã liên hệ mua ngày 22/7/2024). Khoảng 11 giờ 00 cùng ngày, M đến quán cà phê Hoàng H1 vào uống nước với N. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, Q điện thoại trên Messenger báo cho N là đang đứng gần phòng trọ của N tại khu phố T, N đi bộ về phòng trọ gặp một người thanh niên đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh (không rõ biển số), người này vứt cái khẩu trang quấn tròn dưới đất bên trong chứa 01 (một) gói nylon hàn kín hai đầu có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá và 01 nỏ thủy tinh nên N nhặt lên bỏ vào túi quần. Sau đó, N đã chuyển khoản cho Q số tiền 300.000 đồng và đi bộ đến quán C vào chòi lá M đang ngồi. N lấy chai nhựa khoét lỗ rồi gắn nỏ thủy tinh vào làm bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bỏ một phần ma túy vào nỏ thủy tinh, số ma túy còn lại N lấy hột quẹt hơ nóng và bóp dính miệng túi nylon lại rồi bỏ vào trong ốp nhựa màu đen điện thoại Sam Sung Galaxy A11 để dành sử dụng riêng. N sử dụng ma túy rồi đến M sử dụng, khi N và M đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phường T kiểm tra hành chính quán cà phê Hoàng H1 phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thanh N, đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 nỏ thủy thủy tinh và 01 gói nylon hàn kín 02 đầu chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A11.

Công an phường T tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan gồm: 01 căn cước công dân mang tên Ngô Trần M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max (do Ngô Trần M giao nộp).

Công an phường T lập hồ sơ ban đầu và tiến hành bàn giao Nguyễn Thanh N và Ngô Trần M cùng hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số 3557/KL-KTHS (MT) ngày 31/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B: Kết luận chất bám màu nâu trong 01 (một) nỏ thủy tinh bị vỡ, không xác định được khối lượng. Tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon hàn kín, khối lượng 0,1376 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định, ngoài lần sử dụng ma tuý chung nêu trên thì N và M còn 03 lần cùng nhau hùn tiền mua ma tuý để sử dụng, cụ thể: Vào các ngày 05/7/2024, 12/7/2024, 19/7/2024, N và M mỗi người hùn số tiền 100.000 đồng (tổng là 200.000 đồng) để mua ma túy và cùng nhau sử dụng tại quán C. Nguồn gốc ma tuý sử dụng do N mua của Q, loại Methamphetamine, hình thức sử dụng bằng cách dùng miệng để hút, dụng cụ sử dụng ma tuý do Q giao kèm theo khi bán ma tuý.

Tại Cáo trạng số 11/CT-VKS.KV17 ngày 11/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Ngô Trần M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Ngô Trần M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Ngô Trần M 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/7/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 10 (mười) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025, bị cáo Ngô Trần M kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại lại bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

Về thời hạn kháng cáo đúng theo thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét yêu cầu kháng cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo Nguyễn Thanh N và Ngô Trần M đều khai nhận vào các ngày 05/7/2024, 12/7/2024, 19/7/2024, các bị cáo N với M mỗi người hùn số tiền 100.000 đồng để mua ma túy và cùng nhau sử dụng tại quán C. Nguồn gốc ma tuý sử dụng do bị cáo N mua của đối tượng tên Q, dụng cụ sử dụng ma tuý do Q giao kèm theo khi bán ma tuý. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo N, M đã thay đổi lời khai, bị cáo N cho rằng ngày 05/7/2024 bị cáo N không sử dụng ma túy, các ngày 12/7/2024, 19/7/2024, bị cáo N sử dụng ma túy một mình tại phòng trọ của N, lý do bị cáo N thay đổi lời khai vì bị cáo nghĩ bị cáo sử dụng ma túy 03 lần và 01 lần đều giống nhau nên bị cáo khai vào các ngày 05/7/2024, 12/7/2024, 19/7/2024, N và M mỗi người hùn số tiền 100.000 đồng để mua ma túy và cùng nhau sử dụng, nay bị cáo nhận thấy nếu sử dụng ma túy 03 lần thì hình phạt nặng nên bị cáo thay đổi lời khai. Bị cáo Ngô Trần M không thừa nhận có hùn tiền mua ma túy và cùng sử dụng ma túy với bị cáo N vào các ngày 05/7/2024, 12/7/2024, 19/7/2024, lý do bị cáo

M thay đổi lời khai vì tại thời điểm Công an phường T lấy lời khai của bị cáo, tinh thần của bị cáo không tỉnh táo do trước đó bị cáo có sử dụng ma túy, cán bộ lấy lời khai nói cho bị cáo biết bị cáo N khai các ngày 05/7/2024, 12/7/2024, 19/7/2024, N và M mỗi người hùn số tiền 100.000 đồng để mua ma túy và cùng nhau sử dụng tại quán cà phê Hoàng H1 nên bị cáo M cũng khai như vậy. Ngày 11/7/2025, khi bị cáo M nhận được bản Cáo trạng của Viện kiểm sát bị cáo mới biết bị cáo bị truy tố vì có hành vi hùn số tiền 100.000 đồng cùng N mua ma túy và cùng nhau sử dụng vào các ngày 05/7/2024, 12/7/2024, 19/7/2024. Tuy các bị cáo có sự thay đổi lời khai nhưng căn cứ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án cùng các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can (bị cáo N: lời khai tại các bút lục 25, 31, 68, 78; hỏi cung tại các bút lục 108, 109, 110, 111; bị cáo M: lời khai tại các bút lục 18, 32, 65, 79; hỏi cung tại các bút lục 104, 105, 106, 107). Đồng thời, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo N không kháng cáo. Do đó, sự thay đổi lời khai không thừa nhận hành vi hùn tiền cùng mua ma túy để sử dụng vào các ngày 05/7/2024, ngày 12/7/2024 và ngày 19/7/2024 của bị cáo M là không phù hợp nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo M về tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Do đó, không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Trần M.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Trần M, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

  • * Người bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận: Tại phiên tòa, bị cáo xác định kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, quá trình điều tra, bị cáo khai có hùn tiền với bị cáo N để mua ma túy về sử dụng. Tuy nhiên, cơ quan điều tra không xác định rõ các ngày 05, 12 và 19/7/2024, bị cáo M sử dụng ma túy cùng với bị cáo N ở đâu? Thời gian nào? Chứng cứ để truy tố bị cáo tổ chức sử dụng ma túy 3 lần ngoài lời khai của các bị cáo N, M tại cơ quan điều tra thì không có chứng cứ nào khác. Tại phiên tòa, bị cáo chỉ khai nhận sử dụng ma túy chung với bị cáo N 1 lần duy nhất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hạ khung hình phạt đối với bị cáo, nếu các chứng cứ rõ ràng thì có thể giữ nguyên bản án sơ thẩm; nếu cần làm rõ các tình tiết thì đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

  • * Bị cáo tranh luận: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp các kết luận giám định, phù hợp lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh N, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: vào các ngày 05/7/2024, 12/7/2024, 19/7/2024, các bị cáo Nguyễn Thanh N, Ngô Trần M mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma túy và cùng nhau sử dụng tại quán cà phê Hoàng H1 tại địa chỉ thuộc tổ H, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố H). Nguồn gốc ma tuý sử dụng do bị cáo N mua của đối tượng tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch), loại Methamphetamine, hình thức sử dụng là hút, dụng cụ sử dụng ma tuý do Q giao kèm theo khi bán ma tuý. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh N và Ngô Trần M đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thanh N và Ngô Trần M về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: tại phiên tòa, bị cáo M không thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23/7/2024 (bút lục 01-02), tại bản tự khai, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can (bút lục 18, 19, 24, 25, 30, 31, 32, 33, 65, 66, 67, 68, 77, 78, 79, 80, 104, 105, 106, 107, 108, 109, 110, 111), các bị cáo Nguyễn Thanh N và Ngô Trần M đều thừa nhận vào các ngày 05/7/2024, 12/7/2024, 19/7/2024, các bị cáo mỗi người hùn 100.000 đồng để mua ma túy và cùng nhau sử dụng tại quán C. Nguồn gốc ma tuý sử dụng do N mua của Q, loại Methamphetamine, dụng cụ sử dụng ma tuý do Q giao kèm theo khi bán ma tuý. Đồng thời, tại các buổi làm việc này, các bị cáo đều được cán bộ lấy lời khai giải thích về quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể: “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị bức cung, nhục hình, các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, các chữ ký, chữ viết tại các bản tự khai, bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can là của bị cáo. Ngày 18/02/2025, bị cáo Ngô Trần M đã được nhận Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 56/BKL-KTMT ngày 18/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (bút lục 131), tuy nhiên bị cáo M không có ý kiến gì về Kết luận điều tra nêu trên và sau khi nhận được bản Cáo trạng của Viện kiểm sát các bị cáo đều thống nhất hành vi của mình và không có khiếu nại. Trong hồ sơ vụ án không phản ánh có sự thông cung, việc lấy lời khai được thực hiện bởi nhiều cán bộ ghi lời khai khác nhau và những nội dung khai đều trùng khớp với nhau. Do đó, việc lấy lời khai đối với các bị cáo không vi phạm tố tụng, thể hiện sự khách quan, trung thực trong các lời khai của bị cáo N và bị cáo M. Không có căn cứ chứng minh có dấu hiệu điều tra viên mớm cung, bức cung,

thông cung. Bị cáo M không thừa nhận hành vi hùn tiền cùng mua ma túy để sử dụng vào các ngày 05/7/2024, ngày 12/7/2024 và ngày 19/7/2024 nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Ngô Trần M 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là cùng quan điểm với Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Trần M. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2025/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

    Xử phạt bị cáo Ngô Trần M 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/7/2024.

  3. Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

    Bị cáo Ngô Trần M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an TP.HCM;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 17 - TP.HCM;
  • - VKSND khu vực 17 - TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 17 -TP.HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP, 20. (54)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huỳnh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 698/2025/HS-PT ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 698/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger