Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 9 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HSST

Ngày: 06/11/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tú.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thi – Giáo viên hưu trí; Bà Đào Thị Minh Nguyệt – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Khuất Thị Mỹ Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng Việt T, sinh ngày 20/12/2007 tại thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Đang là học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1980 và bà Trần Thị P, sinh năm 1983; Vợ, Con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1980, bà Trần Thị P, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn H, xã H, Hà Nội; (Anh T vắng mặt, chị P có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Hoành S - Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; Có mặt.

Bị cáo bị khởi tố tại ngoại, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

2. Trần Duy H, sinh ngày 04/02/2007 tại thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Duy S1, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Kim Thị M, sinh năm 1974; Vợ, Con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.

Người đại diện theo pháp luật: Chị Kim Thị M, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn H, xã H, Hà Nội; có mặt.

Bị cáo không nhờ người khác bào chữa. Người đại diện không lựa chọn người bào chữa.

Bị cáo bị khởi tố tại ngoại, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

- Bị hại:

+ Cháu Nguyễn Phú N, sinh ngày 30/11/2008; có mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phú Q – Bố đẻ; Bà Trương Thị L-Mẹ đẻ; Ông Q vắng mặt, Bà L có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố Hà Nội.

+ Cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/5/2008; có mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị K-Mẹ đẻ; có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Trần Quang T2, sinh ngày 02/01/2010;

Người đại diện theo pháp luật: Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1985;

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố Hà Nội; Đều có mặt.

+ Vũ Hữu T3, sinh ngày 28/06/2010;

Người đại diện theo pháp luật: Chị Nông Thị H2, sinh năm 1988;

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã H, Hà Nội; Đều có mặt.

+ Bùi Đức N1, sinh ngày 20/04/2009;

Người đại diện theo pháp luật: Chị Trần Thị V, sinh năm 1977.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, Hà Nội; Đều có mặt.

+ Trần Xuân T4, sinh ngày 22/06/2010;

Người đại diện theo pháp luật: Anh Trần Xuân T5, sinh năm 1976.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, Hà Nội; Vắng mặt.

+ Thế Bùi Tiến Đ, sinh ngày 27/11/2008;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Thế Thị C, sinh năm 1967.

Cùng trú tại: Thôn H, xã H, Hà Nội; Đều vắng mặt.

+ Trần Văn D, sinh ngày: 03/10/2009; Người đại diện theo pháp luật: Anh Trần Văn H3, sinh năm 1982; Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1982, là bố mẹ đẻ; Cùng trú tại: Thôn T, xã H, Hà Nội; Đều vắng mặt.

+ Vương Hoàng N2, sinh ngày: 24/6/2009 Người đại diện theo pháp luật: Chị Vương Thị C1, là mẹ đẻ; Cùng trú tại: Thôn T, xã H, Hà Nội; Đều vắng mặt.

+ Trần Việt A1, sinh ngày: 18/9/2010; trú tại: Thôn T xã H, Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Anh Trần Huy T6, sinh năm 1989, là bố đẻ; Trú tại: Thôn T, xã H, Hà Nội; Chị Hoàng Thị T7, sinh năm 1990, là mẹ đẻ; Trú tại: Thôn T, xã H, Hà Nội; Đều vắng mặt.

+ Nguyễn Hoàng V1, sinh ngày: 15/9/2009; Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Văn N3, sinh năm 1978 và chị Nguyễn Thị T8, sinh năm 1981, là bố mẹ đẻ; Cùng trú tại: Thôn T, xã H, Hà Nội; Đều vắng mặt.

+ Phan Đình S2, sinh ngày 18/3/2010; Người đại diện theo pháp luật: Anh Phan Đình N4, sinh năm 1988 và chị Trần Thị M1, sinh năm 1992, là bố mẹ đẻ; Cùng trú tại: Thôn T, xã H, Hà Nội; Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 25/11/2024, qua mạng xã hội Facebook, Trần Văn D có mâu thuẫn, nhắn tin chửi và thách thức hẹn đánh nhau với một tài khoản tên “T9 bồng nguyên soái” (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) vào tối ngày 26/11/2024 tại cây xăng xã P (nay là xã P, Hà Nội). Sau đó, D nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Trần Quang T2, Vương Hoàng N2 và Trần Việt A1, rủ đi đánh nhau vào tối ngày 26/11/2024, tất cả đồng ý. Sau đó, Vương Hoàng N2 nhắn tin rủ thêm Vũ Hữu T3, Bùi Đức N1 và Thế Bùi Tiến Đ; Trần Việt A1 rủ thêm Trần Xuân T4; Bùi Đức N1 rủ thêm Nguyễn Hoàng V1 cùng tham gia.

Chiều ngày 26/11/2024, Vương Hoàng N2 đến quán B1 ở thôn N, xã H, Hà Nội gặp Vũ Hữu T3 để mượn một thanh kiếm, dạng kiếm N5 rồi mang về cất giấu tại bụi cây sát cạnh quán I ở dốc K thôn T, xã H, Hà Nội rồi ở quán chơi game chờ mọi người tập trung đủ thì đi.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Quang T2 điều khiển xe Honda Wave màu trắng, không có biển kiểm soát đến đón Trần Văn D; Trần Xuân T4 điều khiển xe Honda Wave màu trắng, mang biển kiểm soát: 29V3-604.45 đến đón Trần Việt A1; Nguyễn Hoàng V1 điều khiển xe Honda Wave, màu xanh tím than, mang biển kiểm soát: 29V3-612.41 đến nhà Phan Đình S2 rủ thêm Sáng đi cùng, rồi V1 điều khiển xe máy sang xã Đ, Đ đón Bùi Đức N1. Sau đó cả nhóm tập trung trước cửa quán I. Đến quán, S2 xuống xe, V1 chở Đức N1 đến nhà Trịnh Quang H5, sinh ngày: 27/8/2009; trú tại: Thôn T, xã H, Hà Nội là bạn học cùng lớp của V1 xin 05 quả pháo tự chế mang đến trước cửa quán I. Lúc này đã đông đủ, D bảo cả nhóm cùng lên xe để đi đến cây xăng P, xã H tìm nhóm của người có tài khoản Facebook tên “T9 bồng nguyên soái” để đánh nhau. Hoàng N2 đi vào bụi cây lấy thanh kiếm đã mượn của T3, rồi đưa cho T2 cầm kiếm. Lúc này, D nhặt 3 nửa viên gạch chỉ đỏ, Việt A1 nhặt 3 nửa viên gạch đỏ và 01 chiếc chổi tre dài khoảng 1m50 ở bụi cây gần vị trí H cất giấu kiếm, Việt A1 đưa Đ 01 nửa viên gạch. Sau khi lấy kiếm và nhặt gạch xong, Hoàng N2 điều khiển xe Honda Wave màu trắng, không biển kiểm soát do Trần Quang T2 đi tới, chở Quang T2 ngồi giữa cầm kiếm, D ngồi sau cùng cầm gạch. T4 cầm lái xe Honda Wave màu trắng, mang biển kiểm soát: 29V3-604.45 chở Việt Al ngồi sau cầm gạch và chổi tre. V1 điều khiển xe Honda Wave màu xanh tím than, mang biển kiểm soát: 29V3-612.41 chở Đức N1 ngồi giữa cầm gạch và S2 ngồi sau cùng cầm pháo. Cả nhóm đi dọc đường Quốc Lộ 32 theo hướng trung tâm Hà Nội - S với tốc độ cao, vừa đi vừa lạng lách đánh võng trên đường. Khi đến cây xăng P, xã P, cả nhóm không gặp nhóm thanh niên nào nên tất cả quay xe lại, đến ngã tư T, xã P thì rẽ phải vào thôn N, xã P nhưng không gặp ai nên cả nhóm đi về trước cửa quán I tụ tập tại đây.

Trước đó, Nguyễn Hoàng Việt T, Trần Duy H được Thế Bùi Tiến Đ rủ đi chơi. Khi Đ khiển xe máy Honda Wave màu tím than, không có yếm, biển kiểm soát: 29AP-015.84 chở Việt T và H đến trước cửa quán I tập trung và gặp nhóm của D quay trở lại, cùng lúc này Vũ Hữu T3 đi xe máy Honda Wave màu tím than, biển kiểm soát 29V3-633.97 một mình đến. Thấy đông đủ, cả nhóm tiếp tục rủ nhau đi

lên cây xăng Phụng Thượng lần nữa để tìm nhóm thanh niên đã hẹn D để đánh nhau, tất cả mọi người đều đồng ý, không ai có ý kiến gì. Sau đó, T3 điều khiển xe máy chở D ngồi sau cầm gạch, Hoàng N2 điều khiển xe máy chở Quang T2 ngồi sau cầm kiếm, T4 điều khiển xe máy chở Việt Al và Đức N1 ngồi sau cầm gạch, V1 điều khiển xe máy chở S2 ngồi sau cầm pháo, còn Đ điều khiển xe máy chở Việt T và H không cầm theo gì cả.

Cả nhóm đi 05 xe máy di chuyển theo đường Quốc Lộ 32 hướng Hà Nội-S, đi từ quán I thuộc xã T qua địa bàn các xã N, P và phố Q xã Đ, T. Vừa đi vừa bóp còi inh ỏi và hò hét, phóng nhanh, lạng lách, đánh võng trên đường. Khi đi đến đoạn gần đường rẽ vào làng T xã P (nay là thôn T, xã P) thì không gặp ai nên nhóm bảo nhau quay lại. Khi quay lại và đi qua đèn xanh, đèn đỏ ở ngã ba Quốc lộ C đi Đ thì nhìn thấy Nguyễn Tuấn A (sinh năm: 2008; trú tại: Thôn T, xã H) điều khiển xe Honda waveS màu đỏ, mang biển kiểm soát: 30L2-6716 chở Nguyễn Phú N (sinh năm: 2008; trú tại: xã H, Hà Nội) ngồi sau đi hướng Hà Nội - S. Lúc này, xe của T3 chở D đi đầu tiên, thấy xe máy của Tuấn A điều khiển có tiếng bô nổ đi ngược chiều nên D hô hào mọi người quay xe lại đuổi theo Tuấn A và N. T3 điều khiển xe máy chở D quay lại đuổi theo đầu tiên, sau đó lần lượt là các xe máy của Hoàng N2 chở Quang T2; Đ chở H và Việt T; T4 chở Việt A1 và Đ; V1 chở S2 quay lại đuổi theo để cùng T3 và D đánh Tuấn A và N. Đến Km34+800 đường Quốc Lộ 32 đoạn thuộc địa phận xã Đ, T, xe T3 chở D đuổi kịp và vượt bên tay trái xe của Tuấn A, xe T3 đi song song và khoảng cách giữa hai xe khoảng 01 mét thì D ngồi sau cầm gạch tay phải, đứng nhổm dậy, vươn người sang bên phải ném nửa viên gạch trúng vào tai bên trái của Tuấn A. Bị ném gạch vào tai, Tuấn A giảm tốc độ đi chậm lại thì xe của T3 vượt lên phía trước. Lúc này xe của Hoàng N2 chở T ngồi sau cầm kiếm đuổi tới áp sát bên tay trái xe của Tuấn A. Tay phải T rút kiếm ra khỏi vỏ bao rồi giơ lên chém ngang 01 nhát trúng vào vùng thắt lưng của N. Thấy bị đánh, Tuấn A quay xe lại tăng ga bỏ chạy về hướng Hà Nội. T3 và Hoàng N2 điều khiển xe quay lại đuổi theo. Lúc này, lần lượt các xe do Đ, T4 và V1 điều khiển mới đuổi tới, D liền vẫy tay ra hiệu cho các xe này quay lại đuổi theo.

Tuấn A chở N bỏ chạy theo Q về hướng Hà Nội. Khi đến cầu T, xã P thì rẽ trái chạy vào cầu T, rồi rẽ phải chạy sang xã N chạy qua các khu dân cư lên đê N. Lúc này, chỉ có 02 xe máy của T3 và Hoàng N2 điều khiển đuổi theo sát xe của

Tuấn A. Còn 3 xe của Đ, T4 và V1 điều khiển đến cầu T thì không thấy xe của T3 và Hoàng N2 nên không đuổi theo nữa mà đi thẳng về trước cửa quán I.

Trên đường về Đ và Việt A1 ném bỏ gạch dọc đường. Khi chạy lên đến đê N, Tuấn A rẽ xuống cầu S chạy về xã T thì xe của T3 và Hoàng N2 không đuổi kịp nữa nên D ném bỏ gạch, rồi cả 02 xe cùng đi về quán I để tập trung. Tại đây T đưa trả chiếc kiếm cho T3 mang về quán B1 để cất giấu, rồi cả nhóm giải tán đi về. Khi đi về, S2 đưa lại 05 quả pháo tự chế cho V1, đến chiều hôm sau do lo sợ bị phát hiện nên V1 mang ra cầu S ném, vứt bỏ.

Hậu quả: Nguyễn Tuấn A: Bị thương tại vùng tai trái, điều trị tại Bệnh viện Đ2.

Nguyễn Phú N bị 01 vết thương tại vùng lưng kích thước khoảng 7,5x0,1cm, cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ2 từ ngày 26/11/2024 đến ngày 29/11/2024, sau đó được chuyển về bệnh viện Đ3 tiếp tục điều trị đến ngày 02/12/2024 ra viện.

Đồ vật, tài liệu thu giữ gồm:

T10 dưới gầm ghế Sopha phòng khách tại quán B1: 01 chiếc kiếm dài 92,5cm, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu dài 67,5cm, có chuôi bằng kim loại màu đen dài 25cm, có bao bằng gỗ màu đen;

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, số Imei: 355765071091432, đã qua sử dụng của Trần Quang T2.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu trắng, có lắp sim, điện thoại bị vỡ mặt kính màn hình, liệt cảm ứng, đã qua sử dụng của Vũ Hữu T3.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, số Imei: 353981106514510, đã qua sử dụng của Bùi Đức N1.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, số Imei: 355349081628531, đã qua sử dụng của Trần Xuân T4.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu bạc, số Imei: 352052075594650, đã qua sử dụng của Vương Hoàng N2.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng đồng, số Imei: 359181076542021, đã qua sử dụng của Thế Bùi Tiến Đ.

01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu tím than, lắp biển kiểm soát 29AP-01584, đã qua sử dụng của Nguyễn Hoàng Việt T.

01 (một) USB nhãn hiệu Kingston màu đen.

Kết quả trưng cầu giám định:

Đối với Nguyễn Phú N: Bản kết luận giám định số 9655/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của V2 Bộ C2, tại thời điểm giám định, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nghĩa là 08%. Cơ chế hình thành thương tích: Do vật sắc gây ra.

Đối với Nguyễn Tuấn A: Ngày 09/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2206/QĐ-ĐTHS; ngày 10/12/2024, ra Quyết định dẫn giải số 2222/QĐ-CSHS-KT-MT. Tuy nhiên, Tuấn A có đơn xin từ chối giám định thương tích, không chấp hành Quyết định dẫn giải nên không xác định được tỷ lệ thương tổn trên cơ thể.

Đối với Trịnh Quang H5 (sinh năm: 2009; trú tại: Thôn T, xã T, huyện P, nay là xã H, thành phố Hà Nội) là người đưa pháo cho Nguyễn Hoàng V1. Quá trình điều tra không thu giữ được pháo, đồng thời không biết V1 sử dụng pháo vào mục đích Gây rối trật tự công cộng nên không có căn cứ để xử lý, Cơ quan điều tra đã nhắc nhở, giáo dục phòng ngừa tội phạm đối với H5.

Đối với số pháo mà S2 cầm khi ngồi sau xe của V1, quá trình điều tra xác định: Sau khi thực hiện hành vi gây rối, S2 đưa lại 05 quả pháo cho V1, chiều hôm sau V1 đã mang ra cầu S ném, vứt bỏ nên không thu giữ được do đó không có căn cứ để giám định có phải pháo nổ hay không. Vì vậy, Cơ quan điều tra chưa có đủ căn cử để xử lý.

Đối với anh Nguyễn Quyết T11 (sinh năm 2005, trú tại: Thôn N, xã H, Hà Nội) cho Vũ Hữu T3 mượn xe máy; anh Nguyễn Văn Đ1 (sinh năm 2007, trú tại: thôn N, xã H, Hà Nội) cho Trần Quang T2 mượn xe máy; anh Nguyễn Văn H6 (sinh năm 2004, trú tại: Thôn T, xã H, Hà Nội) để xe ở nhà, xe vẫn cắm chìa khoá ở ổ khoá điện nên Nguyễn Hoàng V1 tự ý lấy xe máy để đi; anh Trần Huy Thành B (sinh năm 2009) lấy xe từ mẹ là chị Nguyễn Thị H7 (sinh năm 1987, trú tại: thôn T, xã H, Hà Nội) cho Trần Huy T12 mượn. Quá trình điều tra xác định, anh T11, anh Đ1, anh H6, anh B, chị H7 đều không biết và không liên quan đến việc các đối tượng sử dụng xe máy để gây rối trật tự công cộng nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với một số đối tượng tại thời điểm phạm tội chưa đủ 16 tuổi gồm: Vũ Hữu T3 (14 tuổi 04 tháng 29 ngày), Trần Văn D (15 tuổi 01 tháng 23 ngày), Vương Hoàng N2 (15 tuổi 05 tháng 02 ngày), Trần Quang T2 (14 tuổi 10 tháng 24 ngày), Trần Xuân T4 (14 tuổi 05 tháng 04 ngày), Trần Việt A1 (14 tuổi 02 tháng 08 ngày), Bùi Đức N1 (15 tuổi 07 tháng 06 ngày), T13 Bùi Tiến Đ (15 tuổi 11 tháng 30 ngày), Nguyễn Hoàng V1 (15 tuổi 02 tháng 11 ngày), Phan Đình S2 (14 tuổi 08

tháng 08 ngày nên hành vi của các đối tượng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm Gây rối trật tự công cộng vì vậy Cơ quan điều tra đề nghị UBND xã xử lý hành chính đối với những đối tượng trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với các hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ của Nguyễn Hoàng Việt T, Trần Duy H, Vũ Hữu T3, Trần Văn D, Vương Hoàng N2, Trần Quang T2, Trần Xuân T4, Trần Việt A1, Bùi Đức N1, Thế Bùi Tiến Đ, Nguyễn Hoàng V1, Phan Đình S2 khi tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, chưa đến tuổi điều khiển xe; anh Nguyễn Quyết T11 giao xe cho Vũ Hữu T3 - người chưa đủ 16 tuổi điều khiển phương tiện tham gia giao thông. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã gửi các tài liệu liên quan đến Phòng C3, Công an thành phố H để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.

Tại bản cáo trạng số 53/CT – VKS ngày 30/09/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 124 của Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H phạm tội: Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H cho UBND xã H, Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc kiếm dài 92,5cm, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu dài 67,5cm, có chuôi bằng kim loại màu đen dài 25cm, có bao bằng gỗ màu đen. Tịch thu, phát mại, sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS,

màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu bạc, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng đồng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu tím than, lắp biển kiểm soát 29AP-01584.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo; Người đại diện theo pháp luật của bị hại; Người bào chữa; Người đại diện theo pháp luật của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Tại phiên tòa Người bào chữa trình bày ý kiến bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và đề nghị Hội đồng xét xử phán quyết theo đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ

quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 26/11/2024, Nguyễn Hoàng Việt T, Trần Duy H, Vũ Hữu T3, Trần Văn D, Vương Hoàng N2, Trần Quang T2, Trần Xuân T4, Trần Việt A1, Bùi Đức N1, Thế Bùi Tiến Đ, Nguyễn Hoàng V1, Phan Đình S2 đã có hành vi tụ tập, mang theo hung khí (kiếm, gạch, pháo), điều khiển phương tiện xe mô tô tham gia giao thông di chuyển với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng trên tuyến đường Quốc lộ 32 đoạn thuộc địa phận các xã N, P huyện P cũ (nay là xã H và xã P, Hà Nội). Quá trình di chuyển, các đối tượng đuổi theo xe của Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Phú N. Khi đuổi kịp xe của Tuấn A thì Trần Quang T2 dùng kiếm chém vào lưng gây thương tích cho Nguyễn Phú Nghĩa L1 08% và Trần Văn D sử dụng gạch ném trúng tai trái của Tuấn A làm mất một phần thịt tại đỉnh tai, do Tuấn A cương quyết từ chối giám định thương tích nên không xác định được tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Tuấn A, đồng thời cả hai không yêu cầu về vấn đề thương tích.

Hành vi của các đối tượng, tụ tập, mang theo hung khí, đuổi chém nhau, lạng lách, đánh võng, nẹt bô gây mất an toàn giao thông, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, do Vũ Hữu T3, Trần Văn D, Vương Hoàng N2, Trần Quang T2, Trần Xuân T4, Trần Việt A1, Bùi Đức N1, Thế Bùi Tiến Đ, Nguyễn Hoàng V1, Phan Đình S2 đều chưa đủ 16 tuổi nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý hình sự.

Đối với Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội T 17 tuối 09 tháng 22 ngày, H 16 tuổi 11 tháng 06 ngày. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi của các bị cáo không những gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn gây mất an toàn giao thông. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu, thời điểm phạm tội các bị cáo chưa thành niên đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người. Do đó, vai trò của các bị cáo là như nhau trong vụ án.

[7] Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội khi chưa thành niên, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng và có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[8]. Về bồi thường dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Phú N và Nguyễn Tuấn A đã được gia đình các đối tượng bồi thường. Gia đình N và gia đình Tuấn A không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự, đồng thời có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về thương tích nên HĐXX không phải xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc kiếm dài 92,5cm, có bao bằng gỗ màu đen là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu huỷ. Đối với 06 điện thoại di động và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu tím than các đối tượng và bị cáo dùng làm phương tiện và để liên lạc, rủ rê nhau thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, phát mại, sung công.

[10] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí; Những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ Điều 124 và Điều 130 của Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H phạm tội: Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Trần Duy H 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H cho Ủy ban nhân dân xã H, Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về bồi thường dân sự: Không.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc kiếm dài 92,5cm, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu dài 67,5cm, có chuôi bằng kim loại màu đen dài 25cm, có bao bằng gỗ màu đen. Tịch thu, phát mại, sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu bạc, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đỏ, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu bạc, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng đồng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu tím than, lắp biển kiểm soát 29AP-01584.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội).)

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Nguyễn Hoàng Việt T và Trần Duy H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo; Người đại diện theo pháp luật của bị hại; Người bào chữa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Người đại diện theo pháp luật của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người đại diện theo pháp luật của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HSST ngày 06/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 69/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T và đồng bọn gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger