Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – HÀ TĨNH

Bản án số: 69/2025/HS-ST

Ngày: 16/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Hiếu và bà Hoàng Nữ Ngọc Oanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Anh, Kiểm sát viên.

Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 16/12/2025 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2025/TLST-HS, ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Họ và tên: Phạm Ngọc A; T gọi khác: “Anh T1”; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/5/1995 tại phường T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà A, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Phạm Ngọc M; Sinh năm: 1969; Họ tên mẹ: Ngô Thị N; Sinh năm: 1972; A, chị em ruột có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Họ tên vợ: Lê Thị D; Sinh năm: 1999; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/11/2014, Phạm Ngọc A bị Công an phường T, thành phố H (nay là phường T), tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 500.000 đồng do có hành vi đánh nhau, đã nộp tiền phạt ngày 13/11/2024; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên Đậu Xuân T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/01/1994 tại phường T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà A, ngõ B, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Đậu Xuân T3; Sinh năm: 1970; Họ tên mẹ: Phan Thị H; Sinh năm: 1971; Anh chị em ruột có: 02 người, bị cáo là con đầu; Họ tên vợ: Trần Thị Phương T4; Sinh năm: 1994; có 01 con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Dương Danh S, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số nhà B, đường H, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Minh T5, sinh năm 2008; Địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
  • + Anh Đoàn Khắc C, sinh năm 2008; Địa chỉ: Xóm B, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
  • + Ông Đậu Xuân T3, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số nhà A, ngõ B, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
  • + Chị Trần Thị Phương T4, sinh năm 1994; Số nhà A, ngõ B, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
  • + Bà Ngô Thị N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số nhà A, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
  • + Chị Lê Thị D, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số nhà A, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đoàn Khắc C: Bà Trương Thị H1; Bí thư Đoàn thanh niên UBND phường T, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Minh T5: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1964; Địa chỉ: thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).

* Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ chiến sỹ hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an H: Đồng chí Ngô Văn H2, đồng chí Nguyễn Văn T6 và đồng chí Nguyễn Thu S1 - Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy dạng cỏ Tobaco (là các sợi thảo mộc được tẩm ướt chất ma túy), Đậu Xuân T2 sử dụng tài khoản Telegram “Caoki”, đăng ký từ số điện thoại 0947.792.xxx của mình đăng nhập vào hội nhóm kín có tên là “TRÙM TOBACO SHOP CO” và kết nối nhắn tin với tài khoản quản trị viên có tên là “Bố Tướng Nè” (không rõ thông tin lai lịch) để đặt mua ma tuý Tobaco. Sau khi trao đổi thống nhất giá cả, người này đồng ý bán ma túy T7 cho T2 theo phương thức gửi ma túy qua xe khách Bắc - Nam bất kỳ, khi xe đến gần bến xe khách Hà Tĩnh thì nhà xe thông báo cho T2 đến nhận hàng và T2 trả tiền mặt cho phụ xe khách để thu hộ người bán. Sau khi sử dụng một thời gian, T2 nảy sinh ý định mua ma túy Tobaco về vừa để sử dụng và bán lại kiếm lời. Đến khoảng tháng 5/2025, bằng hình thức giao dịch trên, Đậu Xuân T2 đã đặt mua 0,8 kilogam ma túy Tobaco với giá 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm nghìn đồng) đưa về cất giấu ở nhà để sử dụng và bán cho người khác khi khách có nhu cầu. Tuy nhiên, số ma túy này T2 chưa bán được cho ai.

Đến khoảng cuối tháng 7/2025, Phạm Ngọc A - là đối tượng sử dụng ma túy dạn cỏ Tobaco (là các sợi thảo mộc được tẩm ướt chất ma túy), thấy có nhiều người hỏi mua ma túy T7 và biết Đậu Xuân T2 có thể liên hệ mua được ma túy Tobaco (do trước đó đã một số lần được T2 cho ma túy Tobaco để sử dụng) nên Ngọc A nảy sinh ý định mua ma túy từ Tín để bán lại cho khách có nhu cầu với giá cao hơn nhằm kiếm lời. Cuối tháng 7/2025, Phạm Ngọc A gặp trực tiếp Đậu Xuân T2 đặt mua 01 kilogam ma túy Tobaco, T2 đồng ý. Để có đủ ma túy bán cho Ngọc A, T2 liên hệ với tài khoản Telegram “Bố Tướng N2” đặt mua 01 kilogam ma túy Tobaco, hai bên thống nhất giá bán là 8.500.000 đồng và hẹn vài ngày sau sẽ giao hàng. Lúc này, T2 báo lại với Ngọc A giá bán 01 kilogam ma túy Tobaco là 12.000.000 đồng, Ngọc A đồng ý. Đến ngày 27/7/2025, người bán thông tin cho T2 biết để ra bến xe khách Hà Tĩnh nhận hàng. Sau khi nhận hàng và trả tiền mặt cho phụ xe, T2 về nhà mình mở túi hàng ra kiểm tra thì thấy ma túy Tobaco được bỏ trong 01 túi zip màu trắng, T2 dùng cân tiểu li có sẵn tại nhà cân lại và thấy đủ 01 kilogam. Tín bỏ túi ni lông chứa ma túy Tobaco này vào túi bóng đen rồi đi bộ đến số nhà A, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh để giao cho Ngọc A. Khi nhận hàng, Ngọc A trả cho T2 10.000.000 đồng tiền mặt và hẹn vài ngày sau sẽ trả đủ 2.000.000 đồng còn lại, T2 đồng ý.

Đối với số ma túy mua được, Ngọc A lấy ra phơi khô rồi chia nhỏ, bỏ vào các túi ni lông dạng túi zip màu trắng, loại nhỏ để bán cho các đối tượng có nhu cầu, với mục đích kiếm lời. Cụ thể:

- Ngày 02/8/2025, Phạm Ngọc A đã bán cho Dương Danh S (Sinh năm: 1994, trú tại số nhà B, đường H, phường T, tỉnh Hà Tĩnh) 02 lần, mỗi lần 02 túi ma túy Tobaco với giá 100.000 đồng/túi. Do S không có tiền mặt để thanh toán nên Ngọc A đã đưa cho S số tài khoản 1925071999 Ngân hàng T8 của vợ mình là Lê Thị D để S chuyển khoản 02 lần, tổng số tiền 400.000 đồng trả cho Ngọc A. Tối cùng ngày, Ngọc A bảo với vợ đó là tiền hàng khách chuyển nên chị D đã đưa lại cho Ngọc A 400.000 đồng.

- Sáng ngày 03/8/2025, Phạm Ngọc A đã 05 lần bán ma túy Tobaco cho 05 đối tượng (không xác định được thông tin lai lịch), mỗi người 01 túi ma túy Tobaco với giá 100.000 đồng/túi, thu lợi 500.000 đồng.

- Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/8/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy Tobaco nên Nguyễn Minh T5 (Sinh năm: 2008, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Hà Tĩnh) rủ Đoàn Khắc C (Sinh năm: 2008, trú tại thôn B, xã H, tỉnh Hà Tĩnh) đến nhà Phạm Ngọc A mua ma túy. Khi đến nơi, C chờ ở ngoài sân, T5 đi vào trong nhà gặp Ngọc A để mua 02 túi ma túy Tobaco với giá 200.000 đồng. Sau khi trả tiền cho Ngọc A xong thì T5 cầm 02 túi ma túy đi ra chỗ C đang chờ và cả hai cùng đi về. Trên đường về, T5 đưa 02 túi ma túy ra cho C xem rồi sau đó bỏ lại vào túi quần. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi T5 và C đang trên đường về thì bị tổ công tác Công an phường T kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi quần bên phải của Nguyễn Minh T5 có 01 túi ni lông màu trắng, kích thước(7 x 4)cm bên trong chứa các sợi thảo mộc dạng khô, màu nâu. T5 và C khai nhận đó là ma túy T7, túi còn lại quá trình đi trên đường T đã làm rơi. Tổ công tác Công an phường T đã tiến hành lập biên bản làm việc, tạm giữ và niêm phong túi ma túy này theo quy định.

Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Minh T5 và Đoàn Khắc C về địa điểm đã mua số ma túy này, tổ công tác Công an phường T, tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành kiểm tra chỗ ở của Phạm Ngọc A ở số nhà A, đường N, phường T. Tại thời điểm kiểm tra, Phạm Ngọc A không ở nhà, bố, mẹ của Phạm Ngọc A là chủ nhà có mặt. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra và thu giữ: 01 (một) hộp cát tông hình hộp chữ nhật có kích thước (31 x 20 x 11)cm, bên trong hộp chứa 20 túi ni lông, mỗi túi đều có kích thước (6 x 4) cm, bên trong các túi đều chứa sợi thảo mộc dạng khô, màu nâu và 01 (một) túi ni lông màu trắng, phía trên nắp túi khóa dạng zip, kích thước (35 x 25) cm, bên trong chứa sợi thảo mộc dạng khô, màu nâu.

Sau khi tổ công tác tiến hành kiểm tra và thu giữ các tang vật nói trên, đến 05 giờ 00 phút ngày 04/8/2025, nhận thức được hành vi vi phạm của mình đã bị phát hiện nên Phạm Ngọc A chủ động đến Công an phường T đầu thú, thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình và khai nhận các túi ni lông mà tổ công tác đã thu giữ tại nhà Ngọc A bên trong đều là ma túy Tobaco do Ngọc A mua từ Đậu Xuân T2 về cất giấu tại nhà để bán cho người khác kiếm lời.

Đến 08 giờ 00 phút cùng ngày, Đậu Xuân T2 biết việc Phạm Ngọc A đã đến Công an phường T để làm việc và nhận thức được hành vi bán ma túy T7 cho Phạm Ngọc A của mình là vi phạm pháp luật nên Đậu Xuân T2 đã đến trụ sở Công an phường T đầu thú, đồng thời tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an các đồ vật gồm: 01 túi zip màu trắng, kích thước (25 x 35) cm, bên trong chứa các sợi thảo mộc khô, màu nâu và 01 cân tiểu li. Đậu Xuân T2 thừa nhận các sợi thảo mộc trong túi zip đã giao nộp là ma túy Tobaco do T2 cất giấu tại nhà để sử dụng và bán lại cho người khác nhằm kiếm lời, tuy nhiên chưa bán được cho ai.

* Theo Bản kết luận giám định số 5955/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của V Bộ C2 xác định:

  • - Đều tìm thấy các chất ma túy MDMB-4en-PINACA và MDMB-INACA trong các mẫu thảo mộc ký hiệu M1, N1, N2 và N3 gửi giám định; khối lượng mẫu và khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu như sau:
    • + Trong 3,869 gam mẫu vật đã thu giữ từ Nguyễn Minh T5 (mẫu M1) có chứa 0,116 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA.
    • + Trong 181,964 gam mẫu vật đã thu giữ tại chỗ ở của Phạm Ngọc A (gồm các mẫu N1 và N2) có chứa 3,528 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA.
    • + Trong 429,600 gam mẫu vật đã thu giữ tại chỗ ở ở của Đậu Xuân T2 (mẫu N3) có chứa 6,444 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA.
  • - Còn đối với chất ma túy MDMB-INACA có chứa trong các mẫu gửi giám định. Do hiện nay V chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA nên không xác định được khối lượng.

MDMB-4en-PINACA và MDMB-INACA là các chất ma túy thuộc danh mục II.C, STT 241 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Kết quả điều tra đã xác định bị cáo Phạm Ngọc A phải chịu trách nhiệm đối với 3,644 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong các mẫu thảo mộc đã thu giữ từ Nguyễn Minh T5 và thu giữ tại chỗ ở của Phạm Ngọc A. Còn Đậu Xuân T2 phải chịu TNHS đối với 10,088 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA, trong đó gồm: 3,644 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong các mẫu thảo mộc thu giữ từ Nguyễn Minh T5, Phạm Ngọc A và 6,444 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong mẫu thảo mộc thu giữ tại chỗ ở của Đậu Xuân T2.

* Vật chứng của vụ án gồm: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H đã thu giữ các đồ vật, tài sản sau đây:

- Thu của Nguyễn Minh T5:

  • + 01 túi ni lông màu trắng, bên trong chứa các sợi thảo mộc khô, màu nâu, khối lượng 3,869 gam (đã trừ mẫu giám định, hiện còn 3,669 gam, ký hiệu M1).

- Thu của Phạm Ngọc A:

  • + 01 hộp cát tông hình hộp chữ nhật có kích thước (31 x 20 x 11)cm, bên trong hộp chứa 20 túi ni lông, mỗi túi đều có kích thước (6 x 4) cm, bên trong các túi đều chứa sợi thảo mộc khô, màu nâu, có tổng khối lượng 72,674 gam (đã trừ mẫu vật giám định, hiện còn 71,674 gam, ký hiệu N1);
  • + 01 (một) túi ni lông màu trắng, phía trên nắp túi có khóa dạng zip có kích thước (35 x 25) cm, bên trong chứa sợi thảo mộc khô, màu nâu, khối lượng 109,290 gam (đã trừ mẫu vật giám định, hiện còn 108,290 gam, ký hiệu N2).
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong gắn thẻ sim 0816762345, đã qua sử dụng.

- Thu của Đậu Xuân T2:

  • + 01 túi zip màu trắng có kích thước (25 x 35) cm, bên trong chứa sợi thảo mộc khô, màu nâu, khối lượng 429,600 gam (đã trừ mẫu vật giám định, hiện còn 428,600 gam, ký hiệu N3).
  • + 01 cân tiểu ly, màu trắng, kích thước (12,5 x 10,5)cm, đã qua sử dụng.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, bên trong gắn thẻ sim 0947792623, đã qua sử dụng.

- Thu của Dương Danh S:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu A31, màu tím, bên trong gắn thẻ sim 0865752279, đã qua sử dụng.

Các vật chứng nêu trên được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Hà Tĩnh để quản lý theo quy định pháp luật.

* Tại cáo trạng số 21/CT-VKS-KV1, ngày 10/11/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Truy tố bị cáo Đậu Xuân T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc A và Đậu Xuân T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 32, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (04/8/2025).
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 32, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 32, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đậu Xuân T2 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (04/8/2025).
  • - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251, khoản 2 Điều 32, Điều 35 BLHS xử phạt bổ sung phạt tiền các bị cáo Phạm Ngọc A, Đậu Xuân T2 từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
    • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 thùng bìa cát tông, niêm phong số 5955/KL-KTHS được niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Võ Văn N3, Trương Mạnh C1 và đóng dấu đỏ của V Bộ C2, bên trong chứa toàn bộ số ma túy đã thu giữ từ Nguyễn Minh T5, Phạm Ngọc A, Đậu Xuân T2 (sau khi đã trừ mẫu vật phục vụ giám định).
    • + Tịch thu, xử lý nộp ngân sách nhà nước:
      • - 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong gắn sim 0816762345.
      • - 01 điện thoại Iphone 7 Plus, màu hồng, bên trong gắn sim 0947792623.
      • - 01 điện thoại A31, màu tím, bên trong gắn sim 0865752279.
      • - 01 cân tiểu ly hình chữ nhật, màu trắng, kích thước (12,5 x 10,5)cm.
    • - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 46, điểm b, khoản 1 Điều 47 BLHS đề nghị truy thu từ bị cáo Phạm Ngọc A số tiền 1.100.000 đồng và bị cáo Đậu Xuân T2 số tiền 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
    • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a, khoản 1, Điều 3; khoản 1, Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

* Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo cho rằng đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để sớm được trở về với xã hội, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về Hành vi, quyết định của Cơ quan và những người tiến hành tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản sự việc, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 5/2025 đến ngày 27/7/2025, thông qua mạng xã hội Telegram, Đậu Xuân T2 đã liên hệ với một đối tượng chưa rõ nhân thân, lai lịch để mua ma túy Tobaco (là các sợi thảo mộc có tẩm ướt các chất ma túy MDMB-4en-PINACA và MDMB-INACA) đưa về cất giấu tại nhà riêng của mình ở số nhà A, ngõ B, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh để bán lại cho người khác với giá cao hơn nhằm kiếm lời. Ngày 27/7/2025, Đậu Xuân T2 mua 01 túi ma túy Tobaco với giá 8.500.000 đồng rồi sau đó bán lại cho Phạm Ngọc A với giá 12.000.000 đồng. Phạm Ngọc A đã trả cho Đậu Xuân T2 10.000.000 đồng, còn nợ 2.000.000 đồng.

Đối với số ma túy mua từ Đậu Xuân T2, Phạm Ngọc A cất giấu tại nhà riêng của mình ở số A, đường N, phường T, tỉnh Hà Tĩnh và chia vào các túi ni lông nhỏ để bán lại cho người khác nhằm kiếm lời. Cụ thể:

  • - Ngày 02/8/2025 Phạm Ngọc A đã 02 lần bán ma túy Tobaco, mỗi lần 02 túi cho Dương Danh S với giá 100.000 đồng/túi, thu lợi 400.000 đồng.
  • - Sáng ngày 03/8/2025, Phạm Ngọc A đã 05 lần bán ma túy Tobaco cho 05 đối tượng (không xác định được thông tin lai lịch), mỗi người 01 túi ma túy Tobaco với giá 100.000 đồng/túi, thu lợi 500.000 đồng.
  • - Tối ngày 03/8/2025, Phạm Ngọc A đã bán cho Nguyễn Minh T5 02 túi ma túy Tobaco với giá 100.000 đồng/túi, thu lợi 200.000 đồng.

Xét thấy các bị cáo đều có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của Phạm Ngọc A đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS và hành vi của Đậu Xuân T2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3]. Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, các bị cáo đều tự nguyện đầu thú; bản thân bị cáo T2 nhiều lần tham gia tình nguyện hiến máu nhân đạo có xác nhận của cơ quan y tế, có ông bà nội ngoại đều là người có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều huân huy chương; bị cáo Phạm Ngọc A có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con nhỏ đều bị bệnh hiếm gặp ở trẻ em thường xuyên phải nằm viện điều trị nên cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 BLHS.

[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội và căn cứ quyết định hình phạt: Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, HĐXX xét thấy: Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Do đó phải xử phạt nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cãi; bản thân các bị cáo tuổi đời còn trẻ, con cái còn nhỏ, để từ đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, để các bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về, làm người có ích cho xã hội.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Đối với số ma tuý thu giữ là chất gây nghiện Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với các tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong gắn thẻ sim 0816762345, đã qua sử dụng (thu của Phạm Ngọc A) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, bên trong gắn thẻ sim 0947792623, đã qua sử dụng (thu của Đậu Xuân T2), chiếc điện thoại di động nhãn hiệu A31, màu tím, bên trong gắn thẻ sim 0865752279, đã qua sử dụng (Thu của Dương Danh S); 01 chiếc cân tiểu ly hình chữ nhật, màu trắng, kích thước (12,5 x 10,5)cm là những công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, xử lý nộp ngân sách Nhà nước.

[6]. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma tuý cần áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 46, điểm b, khoản 1 Điều 47 BLHS truy thu từ các bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.

[7]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1, Điều 3; khoản 1, Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

[9]. Các vấn đề khác:

  • - Đối với đối tượng bán ma túy cho bị can Đậu Xuân T2: Quá trình điều tra vụ án, Đậu Xuân T2 khai nhận đã thực hiện việc mua bán ma túy T7 thông qua cách liên hệ từ tài khoản Telegram “Caoki” của T2 với tài khoản “Bố Tướng N2” là quản trị viên của hội nhóm kín “TRÙM TOBACO SHOP CO”, sau khi gửi hàng về gần đến bến xe H thì người này sẽ báo tin cho T2 biết để ra nhận hàng và yêu cầu Tín trả tiền mặt trực tiếp cho phụ xe khách thu hộ. Vì vậy, Đậu Xuân T2 không biết thông tin, con người cụ thể sử dụng tài khoản Telegram nói trên. Sau khi giao dịch xong, để tránh bị phát hiện, Đậu Xuân T2 đã xóa các nội dung liên lạc ở trên tài khoản Telegram của mình. Do đó, Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác định danh tính, con người cụ thể sử dụng tài khoản nói trên và xử lý theo quy định pháp luật.
  • - Đối với các đối tượng Nguyễn Minh T5, Đoàn Khắc C: Ngày 03/8/2025, Nguyễn Minh T5 rủ Đoàn Khắc C cùng đi mua ma túy với mình về để sử dụng. T5 trực tiếp thực hiện giao dịch mua 02 túi ma túy Tobaco từ Phạm Ngọc A với giá 200.000 đồng, sau đó cất dấu trong túi quần. Trên đường đi về, T5 bị tổ công tác Công an phường T phát hiện, kiểm tra và thu giữ 01 túi ni lông bên trong có chứa các sợi thảo mộc khô, màu nâu, khối lượng 3,869gam, bên trong có chứa 0,116gam ma túy MDMB-4en-PINACA, 01 túi ma túy còn lại bị rơi ở đâu T5 không rõ. Căn cứ vào khối lượng ma túy thu giữ từ Nguyễn Minh T5 (0,116gam) và kết quả xác định nhân thân của T5, xác định hành vi này của Nguyễn Minh T5 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 28/10/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Minh T5 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định. Đối với Đoàn Khắc C: khi Nguyễn Minh T5 rủ C đi cùng mình đến nhà Phạm Ngọc A mua ma túy để sử dụng, C đồng ý, tuy nhiên C không góp tiền với T5 để mua ma túy, cũng không trực tiếp thực hiện giao dịch mua ma túy với Phạm Ngọc A. Số ma túy mua được, T5 đưa ra cho C xem rồi sau đó cất giấu vào túi quần của mình cho đến thời điểm bị tổ công tác Công an phường T phát hiện, thu giữ. Như vậy, Đoàn Khắc C là đối tượng đi theo Nguyễn Minh T5 mua ma túy về để sử dụng nhưng chưa được sử dụng. Do đó, Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý hành vi của Đoàn Khắc C.
  • - Đối với đối tượng Dương Danh S: Quá trình điều tra vụ án có đủ căn cứ xác định vào ngày 02/8/2025, Dương Danh S đã 02 lần mua ma túy của Phạm Ngọc A, mỗi lần mua 02 túi ma túy và đã thanh toán tổng số tiền 400.000 đồng. Ngoài ra, chiều ngày 03/8/2025, Phạm Ngọc A đã cho Dương Danh S 01 túi ma túy Tobaco để sử dụng. Đối với 05 túi ma túy này, Dương Danh S đã sử dụng hết. Cơ quan CSĐT tiến hành kiểm tra chỗ ở của S nhưng không phát hiện, thu giữ được vật chứng gì có liên quan đến hành vi tàng trữ, sử dụng chất ma túy. Kết quả kiểm tra chất ma túy trong nước tiểu của Dương Danh S cho kết quả âm tính. Do đó, Cơ quan CSĐT không đủ cơ sở để xử lý TNHS đối với hành vi của Dương Danh S.
  • - Đối với những người thân thích sống chung nhà với các bị can: Quá trình điều tra vụ án đã xác định, ngày 02/8/2025, Dương Danh S đã chuyển khoản 400.000 đồng (mỗi lần 200.000 đồng) vào số tài khoản 1925071999 Ngân hàng T8 của chị Lê Thị D (vợ bị can Phạm Ngọc A), tuy nhiên chị D không hề biết số tiền này là tiền mua ma túy T7 mà S trả cho Ngọc A nên sau đó chị D đã rút số tiền này đưa cho Ngọc A. Trong quá trình sống chung nhà, chị Lê Thị D và ông Phạm Xuân M1, bà Ngô Thị N (là bố, mẹ của bị can Phạm Ngọc A) đều không biết, không liên quan gì đến hoạt động mua, bán ma túy của Phạm Ngọc A. Chị Trần Thị Phương T4, ông Đậu Xuân T3, bà Phan Thị H (là vợ và bố, mẹ của bị can Đậu Xuân T2) không biết việc Đậu Xuân T2 cất giấu ma túy Tobaco tại phòng ngủ của vợ chồng T2 và thực hiện việc bán ma túy cho Phạm Ngọc A. Vì vậy, Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý TNHS đối với chị Lê Thị D, ông Phạm Xuân M1, bà Ngô Thị N, chị Trần Thị Phương T4, ông Đậu Xuân T3, bà Phan Thị H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc A và Đậu Xuân T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 32, Điều 38 BLHS xử phạt Phạm Ngọc A 07(bảy) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (04/8/2025).
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 32, Điều 38 BLHS xử phạt Đậu Xuân T2 03(ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (04/8/2025).
    • + Áp dụng Điều 35, khoản 5 Điều 251 BLHS xử phạt bổ sung bị cáo Phạm Ngọc A và Đậu Xuân T2 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 thùng bìa cát tông, niêm phong số 5955/KL-KTHS được niêm phong bởi các chữ ký Võ Văn N3, Trương Mạnh C1 và dấu đỏ của V Bộ C2, bên trong chứa: 01 phong bì màu trắng, ký hiệu M1, bên trong có 01 túi ni lon màu trắng, ký hiệu M1, kích thước 18cm X11cm chứa các sợi thực vật màu nâu khối lượng 3,669 gam; 01 hộp carton hình chữ nhật, ký hiệu N1, kích thước (31 x 20 x 11)cm, bên trong hộp chứa 20 túi ni lông, mỗi túi đều có kích thước (6 x 4) cm, bên trong các túi đều chứa sợi thảo mộc khô, màu nâu, có tổng khối lượng 71,674 gam; 01 (một) túi ni lông màu trắng, phía trên nắp túi có khóa dạng zip có kích thước (35 x 25) cm, bên trong chứa sợi thảo mộc khô, màu nâu, khối lượng 108,290 gam, ký hiệu N2; 01 túi zip màu trắng, ký hiệu N3, kích thước (25x35) cm chứa các các sợi thảo mộc khô, màu nâu, khối lượng 428,600 gam.
    • - Tịch thu, xử lý nộp ngân sách Nhà nước:
      • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, đã qua sử dụng (thu của Phạm Ngọc A);
      • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, đã qua sử dụng (thu của Đậu Xuân T2);
      • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu A31, màu tím, đã qua sử dụng (thu của Dương Danh S);
      • + 01 cân tiểu ly, màu trắng, kích thước (12,5 x 10,5)cm, đã qua sử dụng.

      (Đặc điểm, tình trạng vật chứng có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/11/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Hà Tĩnh).

  4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 46, điểm b, khoản 1 Điều 47 BLHS: Truy thu từ bị cáo Phạm Ngọc A số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu, một trăm ngàn đồng) và bị cáo Đậu Xuân T2 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1, Điều 3; khoản 1, Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Phạm Ngọc A, Đậu Xuân T2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND khu vực 1 – Hà Tĩnh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh
  • - Phòng Thi hành án DS khu vực 1 – Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Văn phòng Tòa án(để công bố)
  • - Lưu HSVA+VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ TĨNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 69/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Anh và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger