|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2025/HS-ST Ngày 30/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đăng Đán và bà Trần Thị Lịch.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Đình Giáp – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2025/TLST - HS ngày 02/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST- HS ngày 16/12/2025, đối với các bị cáo:
1. Trương Công T, sinh năm 1984;
Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, tỉnh Thanh Hóa (thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Phạm Thị H, sinh năm: 1955; vợ: Phạm Thị T1, sinh năm 1988. Con: Có 01 con sinh năm 2010; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 là tại Quyết định số 02/QĐ- TA ngày 14/4/2022 Tòa án nhân dân huyện Bá Thước (cũ), tỉnh Thanh Hóa về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 23/3/2022. Chấp hành xong ngày 23/4/2024; Nhân thân: Tại Bản án số: 16/2002/HSST ngày 25/12/2002 của TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 và 6 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” quy định tại khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 18 tháng tù. Đến nay đã được xóa án tích; Tại bản án số 12/2005/HSST ngày 22/9/2005 của TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”. Đến nay đã được xóa án tích; Tại Bản án số: 27/2011/HSST ngày 14/12/2011 của TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đến nay đã được xóa án tích; Tại Bản án số: 409/2019/HSST ngày 30/12/2019 của TAND quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 29/11/2020, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 14/8/2020. Đến nay đã được xóa án tích; và ngày 24/3/2024, Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 18/QĐ- UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 25/3/2024 đến 25/3/2026; Bị tạm giam từ ngày 22/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B; có mặt.
· Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Nhật H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T5, có mặt;
Địa chỉ: Số H đường P, P. K, tỉnh Bắc Ninh.
2. Hoàng Thọ K, sinh năm 1991;
Nơi cư trú: Khu Đ, phường A, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thọ T2, sinh năm 1968 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm: 1972; vợ: Lê Thị C, sinh năm 1992 (đã ly hôn). Con: Có 01 con sinh năm 2015; tiền án: Có 01 là tại Bản án số 54/2019/HSST ngày 08/8/2019 của TAND thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2021; chấp hành xong án phí ngày 04/3/2020 nhưng đến nay chưa bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Văn N và chị Mai Thị N1 số tiền 2.791.000 đồng; chưa bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị Lê Thị Q số tiền 522.000 đồng; tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 100/2021/HSST ngày 23/9/2021 TAND thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2022, chấp hành xong án phí ngày 01/22/2021; và tại Quyết định số 131/QĐ- UBND ngày 15/9/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B về việc cai nghiện ma túy tự nguyện bằng hình thức điều trị nghiện các dạng chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế; Bị tạm giam từ ngày 22/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại T - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B; có mặt.
*. Bị hại: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1987, vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 19/8/2025, Hoàng Thọ K đến phòng trọ của Trương Công T hiện đang thuê nhà trọ ở khu vực xã C, thành phố Hải Phòng để chơi. Sau khi ăn uống xong, khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/8/2025 T rủ K đi trộm cắp tài sản, K đồng ý. T lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 73HA- 8120, số khung: RLHHC09083Y398397, số máy: HC09E - 0398448 của mình chở K sang địa phận xã L, tỉnh Bắc Ninh, với mục đích xem có ai sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến đoạn đường tỉnh lộ 281 thuộc địa phận thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh, T và K quan sát thấy phần lán phía trước cửa hàng máy nông nghiệp của gia đình ông Bùi Văn L để nhiều chi tiết máy cày bằng kim loại không có người trông coi nên T dừng xe lại rồi cùng K đi vào lán lục tìm tài sản. Quá trình lục tìm tài sản, K phát hiện thấy có 01 lốc máy cày bằng kim loại để ở góc lán nên đã bê đến chỗ dựng xe mô tô để lên yên xe và ngồi phía sau ôm giữ, còn T điều khiển xe mô tô. Lúc này, ông L đang ngủ trong nhà nghe thấy tiếng chó sủa nên đã tỉnh dậy và kiểm tra camera an ninh của gia đình mình thì phát hiện T điều khiển xe mô tô chở K đi về hướng xã T. Thấy vây nên ông L đã điều khiển xe ô tô BKS 99A- 445.32 đuổi theo T và K. T chở K đi được khoảng 4km thì phát hiện thấy có 01 xe ô tô đang đuổi theo xe của mình. Do hoảng sợ, lại chở lốc máy nặng và cồng kềnh nên T bị mất lái lao vào cửa nhà ông Nguyễn Thế T3, trú tại thôn C, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi bị ngã, T được một số người dân gần đó đưa đến trụ sở Công an xã T làm việc, còn K bỏ chạy đến trạm bơm gần đó lẩn trốn đến khoảng 08 giờ ngày 20/8/2025 K bị lực lượng Công an phát hiện và đưa đến trụ sở Công an xã T làm việc.
Ngày 20/8/2025, công an xã T thu giữ của Trương Công T: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 73HA -8120, số máy: HC09E - 0398448, số khung: RLHHC09083Y398397, bị hư hỏng, gãy càng xe phía trước; và 01 lốc động cơ máy cày bằng kim loại, mặt ngoài có số “4TNE88” và “5908” hình hộp chữ nhật kích thước (40cm x 23cm x29cm), có khối lượng 50kg dùng để lắp vào động cơ máy cày nhãn hiệu YANMAREF 220, đã qua sử dụng.
Vụ việc xảy ra tại trên bàn xã L nên Công an xã T đã bàn giao người cùng các vật chứng nêu trên đến Công an xã L để giải quyết. Cùng ngày Công an xã L đã bàn giao người và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 20/8/2025, ông Bùi Văn L đã có đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: C1763/YC-CSHS, gửi đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh để định giá 01 lốc động cơ máy cày bằng kim loại như đã nêu ở trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 93/KL-HĐĐGTS, ngày 22/08/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01 lốc động cơ máy cày bằng kim, mặt ngoài có số “4TNE88” và “5908” hình hộp chữ nhật kích thước (40cm x 23cm x29cm), có khối lượng 50kg dùng để lắp vào động cơ máy cày nhãn hiệu YANMAREF 220, có giá trị thành tiền tại thời điểm ngày 20/8/2025 là: 4.333.333 đồng.
Ngày 29/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định: số C1437/QĐ-CSHS, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh B giám định số khung, số máy của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave, số khung: RLHHC09083Y398397, số máy: HC09E - 0398448, gắn BKS: 73HA - 8120 có phải nguyên thủy không.
Tại Bản kết luận giám định số: 2184/KL-KTHS, ngày 31/08/2025, của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Số máy, số khung của chiếc xe mô tô gửi giám định không bị tẩy xóa; không bị đóng đục lại; hàng chữ số đóng trên thân máy: HC09E - 0398448 và hàng chữ số đóng trên khung xe: RLHHC09083Y398397 là nguyên thủy.
Quá trình đấu tranh mở rộng xác định Trương Công T và Hoàng Thọ K còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Khoảng 11 giờ ngày 18/8/2025, Trương Công T điều khiển xe mô tô đi đến cầu B thì gặp Hoàng Thọ K. T điều khiển xe mô tô chở K qua cầu B rẽ phải vào đường đê đi về hướng xã N, tỉnh Bắc Ninh. Khi đến dốc chân đê thuộc địa phận thôn V, xã N thì dừng lại rồi cả hai đi xuống bờ dốc gần chân đê để sử dụng ma tuý. T lấy 01 gói ma túy Heroine, 01 xilanh, 01 ống nước cất do T chuẩn bị từ trước ra. T pha ma túy Heroine vào ống nước cất lắc đều cho tan rồi dùng 01 xilanh hút nước pha ma túy vừa pha tự tiêm chích vào khu vực bẹn trái của bản thân. Hoàng Thọ K cũng bỏ trong người ra 01 gói ma túy Heroine, 01 xilanh, 01 ống nước cất. Sau khi pha ma túy, K tự dùng xilanh hút nước ma túy trong ống nước cất và tiêm chích vào vùng bắp tay trái. Sau khi sử dụng ma tuý xong T và K đã vứt xi lanh và vỏ lọ nước cất xuống chân đê. Sau đó, T chở K về phòng trọ của T ở khu vực xã C, thành phố Hải Phòng.
Trương Công T khai nhận: Trương Công T là người nghiện chất ma túy từ năm 1999. Ngày 14/4/2022 Tòa án nhân dân huyện Bá Thước (cũ), tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 02/QĐ- TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Công T, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 23/3/2022. Đến ngày 23/3/2024, T chấp hành xong quyết định trên và được Cơ sở cai nghiện tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong số 119/GCN- CSCNMT2. Ngày 24/3/2024, Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định số 18/QĐ- UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Trương Công T, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 25/3/2024 đến 25/3/2026. Đầu tháng 8/2025, Trương Công T ra khu vực xã C, thành phố Hải Phòng thuê nhà ở để tìm việc làm và quen biết với kiên. Về nguồn gốc chất ma túy Heroine, 01 xi lanh, 01 lọ nước cất mà Trương Công T sử dụng nêu trên là T mua của 01 người đàn ông khoảng 45 tuổi, cao khoảng 1,7m có đeo khẩu trang và đội mũ bảo hiểm với giá 400.000 đồng vào đầu tháng 8/2025 trên đường đi từ Thanh Hóa đến thành phố Hải Phòng.
Hoàng Thọ K khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy từ năm 2016. Ngày 14/9/2023, Hoàng Thọ K có đơn đăng ký điều trị nghiện ma túy gửi Công an xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 15/9/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B ra Quyết định số 131/QĐ- UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện bằng hình thức điều trị nghiện các dạng chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm y tế thị xã Đ. Đến ngày 03/4/2024, K từ ý bỏ điều trị không đến Trung tâm y tế thị xã Đ uống thuốc nữa. Về nguồn gốc chất ma túy, dụng cụ ma túy mà Hoàng Thọ K sử dụng ngày 18/8/2025 là do K mua của 01 người đàn ông khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1,6m, da ngăm, dáng người bình thường với giá 250.000 đồng vào khoảng giữa tháng 8/2025 khi K đang đi trên đường từ Quảng Ninh đến Bắc Ninh.
Ngày 20/8/2025, tại trụ sở Công an xã L, tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành test nước tiểu của T và K, kết quả dương tính với chất ma túy. Đồng thời thu giữ mẫu nước tiểu của Trương Công T và Hoàng Thọ K để giám định.
Ngày 21/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định số C1045 và số C1046 trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh B giám định mẫu nước tiểu ghi thu của Trương Công T và Hoàng Thọ K có chất ma túy không? Loại ma túy nào.
Tại kết luận giám định số 2023 /KL- KTHS, số 2036/KL- KTHS cùng ngày 22/8/2025 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh B kết luận: Mẫu nước tiểu ghi thu của Trương Công T có tìm thấy 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa của Heroine; Mẫu nước tiểu của Hoàng Thọ K có tìm thấy 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa của Heroine.
* Tại cáo trạng số: 50/CT-VKSTT ngày 02/12/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh đã truy tố:
- Trương Công T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
- Hoàng Thọ K về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thấy ăn năn, hối cải.
Trong quá trình điều tra, bị hại là ông Bùi Văn L xác nhận đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì.
*. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Luận tội và đề nghị như sau:
- Tuyên bố các bị cáo Trương Công T và Hoàng Thọ K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T.
Xử phạt bị cáo T từ 08 đến 10 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản " và từ 25 tháng đến 27 tháng tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy", tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 33 tháng đến 37 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 22/8/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K.
Xử phạt bị cáo K từ 09 đến 12 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản " và từ 26 tháng đến 29 tháng tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy", tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 35 tháng đến 41 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 22/8/2025.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
- Về bồi thường thiệt hại: Không đề cập giải quyết.
- Về việc xử lý vật chứng: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí:
+ Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T (do bị cáo thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn).
+ Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
*. Sau khi nghe bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận, mà thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng như bản luận tội đã nêu.
Người bào chữa cho bị cáo T có ý kiến: Việc truy tố và xét xử đối với bị cáo T là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên không có ý kiến tranh luận và bào chữa. Nay bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số và thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị, căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Nhận thấy, tại phiên toà hôm nay các bị cáo Trương Công T và Hoàng Thọ K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/8/2025, tại lán trước cửa cổng nhà anh Bùi Văn L, sinh năm 1987, ở thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Trương Công T, Hoàng Thọ K đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 lốc động cơ máy cày bằng kim loại, mặt ngoài có số “4TNE88” và “5908” hình hộp chữ nhật kích thước (40cm x 23cm x29cm), có khối lượng 50kg dùng để lắp vào động cơ máy cày nhãn hiệu YANMAREF 220, trị giá là 4.333.333 đồng của gia đình anh Bùi Văn L, với mục đích đem bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngoài ra, quá trình điều tra xác định vào ngày 18/8/2025, tại dốc chân đê thuộc địa phận thôn V, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Trương Công T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (heroin), trong thời gian đang quản lý sau cai theo quyết định số 18 ngày 24/3/2024 của UBND xã L, huyện B, tỉnh Thanh Hóa về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú. Mặc dù chưa hết thời gian tự nguyện điều trị nhưng Hoàng Thọ K đã tự ý chấm dứt cai nghiện vào ngày 03/4/2024 và tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy (Heroine) vào hồi 11 giờ ngày 18/8/2025 tại dốc chân đê thuộc địa phận thôn V, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, với mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản để lấy tiền ăn tiêu.
Ngoài ra, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật phòng, chống ma túy; Bị cáo K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định.
Do vậy, hành vi của bị cáo Trương Công T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Hoàng Thọ K đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh đã truy tố.
Do các bị cáo phạm 02 tội nên cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
- Về vai trò, nhân thân, tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- Về vai trò: Trong vụ án này, trong tội "Trộm cắp tài sản", các bị cáo thực hiện tội phạm với hình thức đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Trong đó, bị cáo T rủ rê và có vai trò chính.
- Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng nào. Còn bị cáo K phạm tội lần này khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuy tính chất và mức độ tội phạm của các bị cáo gây ra là nguy hại không lớn cho xã hội, nhưng lại gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc, phẫn nộ và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm tương ứng, cho các bị cáo cách ly xã hội một thời gian, để có tác dụng giáo dục các bị cáo nói riêng, răn đe phòng ngừa chung, không tạo ra tiền lệ xấu, ngăn chặn sự gia tăng các loại tội phạm nguy hiểm này và góp phần làm trong sạch, lành mạnh đời sống xã hội và niềm tin vào pháp luật của nhân dân.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về việc bồi thường thiệt hại: Xét thấy, bị hại là ông Bùi Văn L xác nhận đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập xem xét.
- Về việc xử lý vật chứng: Không đề cập giải quyết.
- Về các vấn đề khác:
- Đối với chiếc xe mô tô chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave, số máy: HC09E - 0398448, số khung: RLHHC09083Y398397, gắn BKS: 73HA – 8120 thu giữ của Trương Công T. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành tra cứu xe vật chứng tại Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B. Tại thông báo kết quả tra cứu ngày 09/09/2025 xác định chiếc xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Nhưng theo Trương Công T trình bày: Năm 2022, Trương Công T mua chiếc xe mô tô trên của 01 người đàn ông không quen biết trên mạng xã hội Facebook có với giá 3.000.000 đồng (thanh toán bằng tiền mặt). Khi mua xe, T được người đàn ông trên nói là xe của bản thân bị mất giấy tờ, không dùng nên đem bán. T không biết người đàn ông này tên tuổi là gì và ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành tra cứu số máy: HC09E - 0398448, số khung: RLHHC09083Y398397 tại Công an xã L, xác định chủ phương tiện chiếc xe mô tô trên Honda Wave là: Khương Văn T4, sinh năm 1979, ở thôn T, D, T, Vĩnh Phúc (nay thuộc xã Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ). Tiến hành làm việc với Công an xã H2 xác định hiện tại trên hệ thống dữ liệu dân cư và hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại Công an xã không có dữ liệu của công dân tên Khương Văn T4 như đã nêu trên. Tiến hành tra cứu biển số 73HA - 8120 tại Công an xã L có thông tin chủ phương tiện là Honda C50, chủ phương tiện là Hoàng Thị L1, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là tổ dân phố A, xã H, tỉnh Quảng Trị). Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với chị Hoàng Thị L1 xác định chị L1 có chiếc xe mô tô gắn biển số 73HA – 8120. Do quá trình sử dụng, xe bị cũ hỏng nên chị L1 đã bán chiếc xe đó cho một người không quen biết từ rất lâu (không nhớ thời gian chính xác, không biết nhân thân, lý lịch người mua), việc mua bán không có giấy tờ gì. Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave, BKS: 73HA -8120, số máy: HC09E - 0398448, số khung: RLHHC09083Y398397, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Do đó, không đề cập xem xét.
- Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T, quá trình điều tra T khai chỉ biết người này 01 người đàn ông này khoảng 45 tuổi, cao khoảng 1,7m có đeo khẩu trang và đội mũ bảo hiểm nhưng T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục hành xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau. Do đó, không đề cập xem xét.
- Đối với đối tượng đã bán ma túy cho K, quá trình điều tra K khai chỉ biết người này 01 người đàn ông này khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1,6m, da ngăm, dáng người bình thường nhưng K không biết họ tên, địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục hành xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau. Do đó, không đề cập xem xét.
- Về án phí:
+ Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T (do bị cáo thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn).
+ Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trương Công T và Hoàng Thọ K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T.
Xử phạt bị cáo T 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" và 27 tháng tháng tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy", tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 22/8/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K.
Xử phạt bị cáo K 10 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản " và 28 tháng tháng tù về tội "Sử dụng trái phép chất ma túy", tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 38 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 22/8/2025.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo việc thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trương Công T (do bị cáo thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn).
- Buộc bị cáo Hoàng Thọ K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Văn Tuyến |
Nơi nhận:
- - Tòa án tỉnh;
- - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và cùng cấp;
- - Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp;
- - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Bắc Ninh;
- - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
- - Bị cáo và những người TGTT khác (nếu có);
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
|
Nguyễn Văn Tuyến |
Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 68/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Sử dụng trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Trương Công T và Hoàng Thọ K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
