Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST

Ngày 28/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bình Thái và ông Nguyễn Văn Tấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn H và con bà: Lâm Thị T1; Vợ, con: chưa có;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Tại bản án số: 48/2020/HSST ngày 16/6/2020 của TAND huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 60 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 04/8/2024 đã chấp hành xong hình phạt tù. Đã thi hành xong toàn bộ bản án;

Nhân thân:

- Tại bản án số: 30/2014/HSST ngày 18/3/2014 của TAND huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 09/2/2015 đã chấp hành xong hình phạt tù. Đã thi hành xong toàn bộ bản án;

1

Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2025 đến nay, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B.

Bị hại:

Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977; (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

Người tham gia tố tụng khác:

1. Ông Nguyễn Kim S - Cán bộ phụ trách tin học Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh. Có mặt.

2. Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam số 1- Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 19 tháng 8 năm 2025, Phạm Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen BKS 17AH-003.30 của mình từ phòng trọ ở thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh đi lang thang xem có ai sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến ngã tư thôn Đ, xã Đ thì thấy một quán vịt Minh T3 bên tay trái do anh Nguyễn Văn T2 là chủ quán rồi đỗ xe bên ngoài vào quán ăn thì thấy anh Nguyễn Văn T2 cất 01 chiếc điện thoại trong tủ kính ở phòng ăn rồi vào làm trong phòng bếp của quán. T đi vào quán ngồi vào bàn ăn. Sau khi ăn xong, T đi vào trong bếp thanh toán 20.000 đồng cho anh T2 rồi đi ra. Khi đi qua tủ kính, lợi dụng lúc anh T2 sơ hở không để ý, T dùng tay trái lấy chiếc điện thoại trong tủ kính cất vào túi quần bên phải rồi đi ra xe mô tô và nổ máy đi về phòng trọ. Khi về phòng trọ, T bỏ điện thoại ra thì thấy là một chiếc Iphone 14 promax màu tím, có ốp lưng bằng nhựa màu xanh có hình nhân vật “Mario”. Khi T chưa kịp tiêu thụ thì biết anh T2 đến cơ quan Công an trình báo nên T đã đến cơ quan Công an đầu thú và giao nộp tang vật.

Vật chứng giao nộp:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím là chiếc điện thoại Thưởng trộm cắp của anh T2. Ngày 06/10/2025, Cơ quan Công an đã trả lại anh T2 chiếc điện thoại trên.

Ngoài ra bị cáo còn giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng là điện thoại của mình dùng để liên lạc.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i BKS 17AH-003.30 màu đen, đăng ký mang tên Phạm Văn T.

2

Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Trên cơ sở yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, tại Kết luận định giá tài sản số 281/KL-HĐĐGTS ngày 03/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận:

“01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 256GB, màu tím, sản xuất và đưa vào sử dụng năm 2022, có giá trị là 16.000.000 đồng”.

Tại cơ quan điều tra Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS-KV8 ngày 06 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt: Phạm Văn T từ từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/8/2025.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím là chiếc điện thoại Thưởng trộm cắp mà có. Ngày 06/10/2025, Cơ quan Công an đã trả lại anh T2 chiếc điện thoại trên, anh thêm không có yêu cầu đề nghị nào khác do vậy không xem xét giải quyết.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i BKS 17AH-003.30 màu đen quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác do vậy không đặt ra giải quyết.

3

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đảm bảo theo trình tự tố tụng hình sự.

[2] Khoảng 19 giờ 07 phút ngày 19/8/2025, tại cửa hàng V do anh Nguyễn Văn T2 làm chủ có địa chỉ tại thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh, Phạm Văn T sau khi vào quán ăn rồi trả tiền ra về, khi ra về lợi dụng sự sơ hở quản lý lỏng lẻo của anh T2 đã có hành vi lét lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím trị giá 16.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T2. Cơ quan điều tra đã thu giữ tài sản trả cho bị hại.

[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với: Thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản", tội được quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án kết án cùng về nhóm tội chiếm đoạt nhưng không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Xét nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo có nhân thân: Tại bản án số: 30/2014/HSST ngày 18/3/2014 của TAND huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 09/2/2015 đã chấp hành xong hình phạt tù. Đã thi hành xong toàn bộ bản án;

4

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án: Tại bản án số: 48/2020/HSST ngày 16/6/2020 của TAND huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 60 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 04/8/2024 đã chấp hành xong hình phạt tù, tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú và giao nộp lại tài sản trộm cắp để trả lại cho bị hại, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và sống cùng gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím. Ngày 06/10/2025, Cơ quan Công an đã trả lại anh T2 chiếc điện thoại trên, anh T2 không có yêu cầu đề nghị nào khác do vậy không xem xét giải quyết.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i BKS 17AH-003.30 màu đen, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác do vậy không đặt ra giải quyết.

[9] Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 329, 331, 333 Bộ luật

5

tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt: Phạm Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 21/8/2025.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i BKS 17AH-003.30 màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 07/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 Bắc Ninh).

Trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 8;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phân tạm giam Tiên Du;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Vũ Tân Thịnh

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 68/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Thưởng phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger