Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG

Bản án số: 67/2025/HSST

Ngày 26/9/2025

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy, cán bộ hưu trí;

Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, nguyên bí thư đoàn thanh niên

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Tuấn Thanh Tú- Kiểm sát viên.

Ngày 14.7.2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/HSST ngày 11/9/2025 Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/HSST-QĐ ngày 11/9/ 2025 đối với bị cáo:

Phan Văn Đ; Sinh ngày: 20/11/2007, tại Đà Nẵng; (Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo: 17 tuổi 05 tháng 26 ngày). CCCD số [...] cấp ngày 09/06/2023; Cư trú: 17 V, tổ I, phường N (cũ), phường S (mới), TP.Đà Nẵng; Trình độ văn hoá: 8/12; Nghề nghiệp: không. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Phan Văn C (1976) và bà Huỳnh Thị Thùy V (1980);

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 25/10/2024, bị Công an quận S (cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 307), nộp phạt ngày 26/8/2025 (Biên lai số 2538351).

Nhân thân:

  • Ngày 19/5/2023, bị Công an quận T (cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 104).
  • Ngày 19/02/2025, bị Cơ quan CSĐT Công an quận H (cũ) khởi tố về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS (Quyết định khởi tố bị can số 69/QĐ-ĐTTH). Ngày 16/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 1 Đà Nẵng xử phạt bị cáo 09 tháng tù (bản án số 47/HSST), án chưa có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo đang được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.Có mặt.

*Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phan Văn Đ có ông Phan Văn C (1976) và bà Huỳnh Thị Thùy V (1980) là cha mẹ ruột, cùng trú tại: A V, tổ I, phường N (cũ), phường S (mới), TP.Đà Nẵng. bà V có mặt

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Phan Văn Đ: ông Võ Văn T, Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ. có mặt

* Bị hại: Dương Thị Mỹ N, sinh năm 2002, trú tại: P Chung cư D đường H, phường S, TP.Đà Nẵng. vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Thanh D, sinh ngày 21/7/2007. Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Thanh D có ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1960. Trú tại: số D L, phường S, TP.Đà Nẵng. vắng mặt
  2. Bà Dương Thị Mỹ H, sinh năm 1984, trú tại: H T, phường N,TP.Đà Nẵng. vắng mặt
  3. Bà Dương Thị Mỹ T1, sinh năm 1986, trú tại: tổ I, phường S, TP Đà Nẵng. vắng mặt

* Người chứng kiến:

  1. ông Nguyễn Tấn M, sinh năm 1963.; Trú tại: P Chung cư D đường H, phường S, TP.Đà Nẵng. vắng mặt
  2. Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1966; Trú tại: P Chung cư D đường H, phường S, TP.Đà Nẵng. vắng mặt
  3. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1958; Trú tại: P Chung cư D đường H, phường S, TP.Đà Nẵng. vắng mặt
  4. ông Nguyễn Tấn V1, sinh năm 1968; Trú tại: P Chung cư D đường H, phường S, TP.Đà Nẵng. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0 giờ ngày 16/5/2025, Phan Văn Đ đi bộ dạo mát cùng Nguyễn Thanh D (SN: 21/07/2007; trú tại: Tổ H, phường S, TP.Đà Nẵng). Khi đi ngang qua cổng sau Chung cư D đường H, phường S, TP ., Đ phát hiện có xe mô tô hiệu Honda Click màu vàng đen (số máy: JF18E0136655, số khung: 1809Y052155), không có biển kiểm soát của chị Dương Thị Mỹ N (SN: 2002; trú tại: P Chung cư D đường H, phường S, TP.Đà Nẵng), chìa khoá cắm sẵn trên xe, xung quanh không có người nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe nói trên. Lúc này, Đ một mình đi đến, nổ máy xe rồi lui xe lại thì thấy Duy tỏ thái độ không đồng ý rồi bỏ đi. Đ ngồi lên xe, điều khiển xe chạy đến lề đường Hoa L (cách vị trí để xe ban đầu khoảng 10 mét). Khi đang định chạy xe xuống lòng đường Hoa Lư thì xe bị kẹt không di chuyển được. Lúc này có một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đi từ đằng sau tới hỏi “Xe này của ai đó?”, sợ bị phát hiện nên Đ định dắt xe để lại chỗ cũ thì người thanh niên này giữ Đ và xe lại. Một lúc sau, có nhiều người dân xung quanh tò mò nên đến đứng xung quanh Đ.

Lúc này, chị N đi về, thấy nhiều người đứng trước cổng chung cư nên đến xem và được người dân nói lại là nghi ngờ có đối tượng trộm xe máy. Chị N nhìn và kiểm tra thì thấy xe của mình nên đã gọi điện báo cho ông Nguyễn Tấn M (trú tại: P.612, nhà 4B, Chung cư L, đường H, phường N, quận S, TP .; trưởng nhà 4B) và ông Nguyễn Tấn V1 là người trông coi nhà xe, đồng thời điện báo đến Công an phường N (nay là Công an phường S). Công an phường N đã đưa Đ về trụ sở Công an phường để làm việc. Tại đây, Đ khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản: Đạt 17 tuổi 05 tháng 26 ngày .

Tang vật tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Click màu vàng đen (số máy: JF18E0136655, số khung: 1809Y052155), không có biển kiểm soát.

Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 03/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 xe mô tô hiệu Honda Click màu vàng đen (số máy: JF18E0136655, số khung: 1809Y052155), không có biển kiểm soát, đã qua sử dụng trị giá 3.250.000 đồng.

Qua điều tra xác định: xe mô tô hiệu Honda Click màu vàng đen (số máy: JF18E0136655, số khung: 1809Y052155) bị trộm cắp mang BKS 43E1-581.08 thuộc sở hữu của ông Dương Văn T2 (đã chết năm 2021). Xe này ông T2 mua vào năm 2020 và đưa cho con gái là chị Dương Thị Mỹ N sử dụng (việc này được các thành viên trong gia đình chị N xác nhận). Trong quá trình sử dụng xe, chị N đã làm rơi BKS, do bận việc nên chị N không báo cơ quan công an và cũng chưa đi làm lại biển số xe (BL 46-94, 97, 99). Cơ quan CSĐT Công an T3 đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 6599/28.7.2025 trả xe mô tô nói trên cho chị N là có căn cứ . Gia đình Đ đã chủ động bồi thường số tiền 500.000 đồng cho chị N. Chị N không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-KV2 ngày 01/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phan Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; Điều 12; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên 2024, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

Do bị cáo là người chưa thành niên nên không đề nghị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS. Ngày 16/9/2025, bị Toà án nhân dân Khu vực 1 xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS (Bản án số 47/2025/HSST). Do bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên không đề nghị tổng hợp hình phạt của 02 bản án.

- Đối với Nguyễn Thanh D: D thấy, chứng kiến việc Đ trộm cắp tài sản nhưng không đồng ý và bỏ đi; không tham gia, giúp sức cho Đ thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Hành vi của D không đủ yếu tố cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 390 BLHS. Cơ quan CSĐT Công an TP.Đà Nẵng không đề cập xử lý đối với D là có căn cứ.

- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Đ đã bồi thường số tiền 500.000 đồng cho chị N. Chị N không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

- Xử lý vật chứng: không có.

Người bào chữa cho bị cáo là luật sư Võ Văn T thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị áp dụng nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế; xem xét hoàn cảnh gia đình; động cơ, mục đích phạm tội đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Huỳnh Thị Thùy V thống nhất với lời bào chữa của luật sư và không có ý kiến bổ sung.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được lỗi lầm, ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

    Vào khoảng 0 giờ ngày 16/5/2025, tại cổng sau Chung cư D đường H, phường S, TP., Phan Văn Đ phát hiện có xe mô tô hiệu Honda Click màu vàng đen (số máy: JF18E0136655, số khung: 1809Y052155), không có biển kiểm soát của chị Dương Thị Mỹ N (SN: 2002; trú tại: P Chung cư D đường H, phường S, TP.Đà Nẵng), chìa khoá cắm sẵn trên xe, xung quanh không có người nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe nói trên. Để thực hiện hành vi của mình Phan Văn Đ một mình đi đến, nổ máy xe rồi lui xe lại sau đó Đ ngồi lên xe, điều khiển xe chạy đến lề đường Hoa L (cách vị trí để xe ban đầu khoảng 10 mét). Tổng tài sản mà Phan Văn Đ đã trộm cắp có giá trị là 3.250.000 đồng (ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

    Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Văn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khực vực 2 Đà Nẵng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

  3. [3] Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 25/10/2024, bị Công an quận S (cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 307), nộp phạt ngày 26/8/2025 (Biên lai số 2538351). Ngày 19/5/2023, bị Công an quận T (cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 104). Ngày 19/02/2025, bị Cơ quan CSĐT Công an quận H (cũ) khởi tố về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS (Quyết định khởi tố bị can số 69/QĐ-ĐTTH) và ngày 16/9/2025 bị Tòa án nhân dân khu vực 1 Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (theo bản án số 47/2025/HSST ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Đà Nẵng) nhưng bị cáo không ý thức được việc đó mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục và ren đe phòng ngừa.
  4. [4] Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Gia đình bị cáo đã chủ động bồi thường số tiền 500.000 đồng cho chị N. Chị N không có yêu cầu bồi thường gì thêm do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo khi phạm tội đều là người dưới 18 tuổi, còn hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên HĐXX áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 12; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên 2024.
  5. [5] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Đ đã chủ động bồi thường số tiền 500.000 đồng cho chị N. Chị N không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
  6. [6] Xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an T3 đã trao trả lại cho bị hại là chị Dương Thị Mỹ N01 xe mô tô hiệu Honda Click màu vàng đen (số máy: JF18E0136655, số khung: 1809Y052155), không có biển kiểm soát theo quyết định xử lý vật chứng số 6599 ngày 28/7/2025 nên HĐXX không đề cập đến.
  7. [8] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) buộc bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. - Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, Điều 51, Điều 12; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên 2024;
  3. Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Đ 06 tháng ( sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  4. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng buộc bị cáo phải chịu.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
  6. Riêng người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - VKSND khu vực 2 Đà Nẵng
  • - VKS ND TPĐN, TAND TPĐN
  • - Công an khu vực 2
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Trại giam Công an TPĐN
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HSST ngày 26/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 67/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phan Văn Đ bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger