TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Trần Kim Phê.
Ông Lê Văn Tuyển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý – Thư ký Tòa án.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2025/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn P, phường N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phái Thành T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Phái Thành T tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2021 tại Ủy ban nhân dân xã P, Tp N. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn gay gắt, không hạnh phúc nên bà yêu cầu giải quyết ly hôn. Nguyên nhân theo bà H trình bày là vì vợ chồng mất lòng tin, thường hay cãi nhau dẫn đến không còn tình cảm, không thể chung sống có hạnh phúc được nữa nên bà H cắt đứt quan hệ vợ chồng, không còn chung sống với ông T từ đầu năm 2024 cho đến nay. Về con chung, vợ chồng có một người con chung tên là Phái Ngọc C – sinh ngày 18/01/2021 đang sống cùng bà H. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu về cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn có nộp bảng tự khai trình bày đồng ý ly hôn do xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Về con thì yêu cầu được nuôi cháu Phái Ngọc C, không yêu cầu về cấp dưỡng và không có yêu cầu về chia tài sản chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu H nộp đơn khởi kiện ngày 01/8/2025, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Phái Thành T có nơi cư trú tại xã H, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (SĐBS 2025), Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về hôn nhân: Tại thời điểm đăng ký kết hôn năm 2021, bà H và ông T và có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo bà H trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do thường xuyên cãi nhau, mất lòng tin và vì cả hai đã cắt đứt quan hệ vợ chồng, không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2024 đến nay; đúng như đơn trình bày có xác nhận của địa phương cư trú mà bà đã nộp cho Tòa án. Xét mâu thuẫn vợ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Bà H được ly hôn với ông T.
[3] Về nuôi con chung: Bà H và ông T có được một người con chung tên là Phái Ngọc C – sinh ngày 18/01/2021, hiện đang sống cùng bà H. Bà H và ông T đều có yêu cầu trực tiếp nuôi con. Xét thấy, ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không có cơ sở xem xét hoàn cảnh, điều kiện, khả năng trực tiếp nuôi con; mặt khác, cháu C đang sống cùng mẹ, việc giao cho bà H tiếp tục nuôi con sẽ đảm bảo sự phát triển tốt nhất về mọi mặt cho con chung. Do đó, yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà H là có căn cứ, phù hợp pháp luật. Tòa án chấp nhận yêu cầu giao cho bà H trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, bà H không yêu cầu về cấp dưỡng cho con.
[4] Các bên đương sự không ai có yêu cầu giải quyết về tài sản chung.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐST theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Phái Thành T.
- Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, giao con chung là Phái Ngọc C – sinh ngày 18/01/2021 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; bà H không yêu cầu về cấp dưỡng cho con. Ông Phái Thành T được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006707 ngày 01/8/2025 của Thi hành án dân sự Đắk Lắk.
Nguyên đơn, bị đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Vinh |
Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
