Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/9/2025

“V/v yêu cầu ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lư Quốc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Cho
  2. Ông Nguyễn Tấn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang. Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Huỳnh Liên. Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 87/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 về việc “Yêu cầu ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 75/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh T, sinh ngày 01/01/1979. CCCD số [...].

Nơi ĐKTT trước đây: Ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nay là ấp C, xã A, tỉnh An Giang.

Chổ ở hiện nay: Ấp K, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Nay là: Ấp K, xã H, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976. CMND số [...]

Địa chỉ trước đây: Ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nay là ấp C, xã A, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 4 năm 2025 và lời khai khác trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thanh T trình bày và yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn L do mai mối giới thiệu quen biết nhau rồi đi đến hôn nhân, không có tổ chức đám cưới nhưng vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, nay là xã A, tỉnh An Giang vào năm 2014.

Thời gian đầu sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau này giữa vợ chồng phát sinh nhiều âo chính quyền địa phương can thiệp nhưng chồng chị không sửa đổi, có lần anh L đánh chị thương tích đến nỗi phải đi bệnh viện sơ cứu nên chị và anh L đã ly thân với nhau từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay, hiện tại giữa vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau nên chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 22/5/2010; Nguyễn Thúy V, sinh ngày 28/5/2018, hiện nay con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 22/5/2010 sống với anh L, đứa nhỏ tên Nguyễn Thúy V, sinh ngày 28/5/2018 thì sống với chị. Khi ly hôn chị đồng ý giao cho anh L nuôi con lớn là Nguyễn Thanh D, còn chị nuôi người con nhỏ tên là Nguyễn Thúy V. Chị và anh L không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị xác định là chị và anh Nguyễn Văn L không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh T.

Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thanh T đề nghị được vắng mặt khi xét xử vụ án và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với anh L.

Anh L vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) và Thư ký đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Về phần nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn

và nuôi con của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn và nuôi con, bị đơn có nơi cư trú trên địa giới hành chính huyện A, tỉnh Kiên Giang, nay là xã A, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

[2] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn L.

Chị Nguyễn Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy việc chị T đề nghị xét xử vắng mặt là trên cơ sở tự nguyện nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025 HĐXX chấp nhận đề nghị của chị T để xét xử vắng mặt chị.

Do trong vụ án, các đương sự đều vắng mặt nên HĐXX thực hiện việc xét xử theo trình tự được quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

[3] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Chị T và anh L xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, nay là xã A, tỉnh An Giang vào năm 2014 nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh L là hợp pháp.

Chị T yêu cầu ly hôn với anh L, nguyên nhân chị T cho rằng là do anh L hay nhậu nhẹt rồi về kiếm chuyện chửi bới, hành hung chị, vợ chồng chị đã ly thân với nhau từ tháng 02 năm 2025 đến nay, không còn quan tâm lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh L biết về việc chị T yêu cầu ly hôn và thông báo cho anh L đến Tòa án tham gia hòa giải nhưng anh L đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T.

Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh L không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau. Từ đó cho thấy hôn

nhân của chị T và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX thống nhất chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Chị T xác định trong thời gian chung sống chị và anh L có 02 con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 22/5/2010; Nguyễn Thúy V, sinh ngày 28/5/2018, hiện nay con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 22/5/2010 đang sinh sống cùng với anh L; còn con chung tên Nguyễn Thúy V, sinh ngày 28/5/2018, hiện đang sống cùng với chị T.

Chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Thúy V, sinh ngày 28/5/2018, giao cho anh L nuôi con tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 22/5/2010.

Chị và anh L không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, các con chung của chị T tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 22/5/2010; Nguyễn Thúy V, sinh ngày 28/5/2018, từ khi chị T làm đơn ly hôn với anh L cho đến nay thì cháu D sinh sống cùng với anh L và cháu V sinh sống cùng với chị T. Để đảm bảo môi trường sống ổn định cho các con cũng như là nguyện vọng của cháu D là muốn sinh sống cùng với cha và cháu V là muốn sinh sống cùng với mẹ nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T, thống nhất giao con chung tên Nguyễn Thúy V, sinh ngày 28/5/2018 cho chị T nuôi dưỡng và giao con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 22/5/2010 cho anh L nuôi dưỡng.

Do chị T không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con và anh L cũng không có yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con ngược lại nên HĐXX không đề cập xem xét. Trường hợp, có phát sinh tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thì chị T và anh L có quyền khởi kiện vụ kiện khác.

Chị T và anh L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung không ai có quyền ngăn cản nhưng không được lợi dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày là chị và anh L không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập xem xét.

Trong trường hợp, sau khi ly hôn có phát sinh tranh chấp về quyền tài sản và nợ trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật cần được chấp nhận.

[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh T phải chịu án phí ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015304 ngày 10/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thúy V, sinh ngày 28/5/2018 cho chị Nguyễn Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng và giao con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 22/5/2010 cho anh Nguyễn Văn L tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Chị Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Văn L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung không ai có quyền ngăn cản nhưng không được lợi dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thanh T xác định là chị và anh Nguyễn Văn L không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.

    Trong trường hợp, sau khi ly hôn có phát sinh tranh chấp về quyền tài sản và nợ trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh T phải chịu án phí ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015304 ngày 10/6/2025 của Chi

cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh An Giang.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt. Báo cho các đương sự biết, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND khu vực, tỉnh;
  • - Phòng THADS khu vực;
  • - UBND xã An Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lư Quốc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TỈNH AN GIANG về yêu cầu ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị T và anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger