TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 12 - 2025
Về việc: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp; bà Nguyễn Thị Bích Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo My – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vục 1- Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 160/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2025 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 20/11/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1966.
Cùng HKTT: Tổ dân phố V, phường S, tỉnh Hưng Yên.
Cùng tạm trú: Số A đường T, phường P, tỉnh Hưng Yên.
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1949. Địa chỉ: Số B đường T, phường P, tỉnh Hưng Yên.
Bà Lưu Thị M1, sinh năm 1935. Địa chỉ: Đ, A, phường P, tỉnh Hưng Yên.
Anh Nguyễn Hữu Khánh D, sinh năm 2003. Địa chỉ: Số A đường T, phường P, tỉnh Hưng Yên.
Chị Nguyễn Thị Phi Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Nhà B, lô E, chung cư V, Phạm H1, tổ D, phường Y, Hà Nội.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bầy:
Bà và ông Nguyễn Hữu B tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 26/10/1992 tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Hưng Yên. Sau kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc vì ông B chơi bời cờ bạc, không làm ăn mà hay vay tiền bạn bè. Bà phải vay Ngân hàng để trả nợ cho ông B, rất nhiều lần bà cho ông B cơ hội sửa chữa nhưng ông không thay đổi, vẫn tiếp tục chơi bời nợ nần khiến cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, vợ con lâm vào cảnh nợ nần cùng với ông. Mặt khác từ trước đến nay các công việc trong gia đình đều do bà lo liệu, ông B không phụ giúp, cũng không hỗ trợ chăm sóc con cái. Vì nghĩ đến con mà bà chịu đựng nhiều năm qua. Năm 2022 bà quyết định sống ly thân với ông B, kinh tế không liên quan đến nhau. Nay các con chung đều đã trưởng thành, có cuộc sống riêng, bà không còn tình cảm vợ chồng với ông nữa. Bà xin được ly hôn ông B.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu B trình bầy:
Ông và bà Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn năm 1992 tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H. Sau kết hôn vợ chồng sống hòa thuận. Năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hay cãi nhau vì kinh tế. Ông làm ăn thua lỗ. Khoảng năm 2021 vợ chồng tuy sống cùng nhà nhưng ly thân, không quan tâm nhau, kinh tế độc lập. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn. Ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Bà H và ông B có 02 con chung là Nguyễn Thị Phi Đ, sinh năm 1993; Nguyễn Hữu Khánh D, sinh năm 2003. Các con đều trên 18 tuổi, tự lập được, ông bà đều không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản, nợ chung: Bà H và ông B đều khẳng định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Người làm chứng chị Nguyễn Thị Phi Đ trình bày: Chị là con gái của bà H, ông B. Chị đã kết hôn và chuyển lên Hà Nội sống từ đầu năm 2023. Thời gian chưa kết hôn và sống với bố mẹ, chị thấy bố mẹ chung sống không hạnh phúc. Khoảng năm 2015-2016 bố mẹ thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân là do bố sa đà vào cờ bạc, nợ nần. Khoảng năm 2021-2022 bố mẹ tuy sống chung một mái nhà nhưng ly thân đến nay. Gia đình 2 bên đều biết có tham gia hòa giải nhưng không có kết quả. Nay, mẹ xin ly hôn với bố, chị ủng hộ và tôn trọng quyết định của mẹ.
Người làm chứng anh Nguyễn Hữu Khánh D trình bày: Anh là con trai của bà H, ông B. Anh thấy bố mẹ chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau về vấn đề tiền trong gia đình. Nguyên nhân do bố nợ nần. Khi anh lên cấp 3, không thấy bố đi làm nữa, bố ít khi ở nhà, thường xuyên đi chơi bời. Năm 2021-2022 bố mẹ sống ly thân kéo dài nhiều năm. Nay, mẹ xin ly hôn bố, anh ủng hộ và tôn trọng quyết định của mẹ.
Người làm chứng bà Lưu Thị M1 trình bày: Bà là mẹ đẻ anh B, mẹ chồng chồng chị H. Anh chị kết hôn với nhau tự nguyện, gia đình bà không ép buộc. Sau kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bà khoảng 05 năm không có mâu thuẫn g. Sau đó, anh chị chuyển ra ở riêng ban đầu ở tại xã B, sau chuyển về đường T ở nên bà không biết mâu thuẫn vợ chồng anh B.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị M: Bà là mẹ đẻ của chị H, mẹ vợ anh B. Việc anh B và chị H kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, gia đình không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H chung sống tại nhà anh B, cuộc sống nhìn chung là hòa thuận. Mấy năm gần đây chị H có kể cho bà nghe việc anh B chơi bời, chị phải trả nợ cho anh và anh B không chung thủy vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án, ông B không đến Tòa án để hòa giải nên Tòa án đã không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, vì vậy HĐXX căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên:
+ Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 1 Hưng Yên đã chấp hành nghiêm chỉnh trình tự thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến quá trình xét xử công khai tại phiên tòa. Nguyên, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 55, 57 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu B. Về con chung: Các con đều trên 18 tuổi, tự lập được, không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Bà H và ông B phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị H xin ly hôn với ông Nguyễn Hữu B có hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Nay là: Tổ dân phố V, phường S, tỉnh Hưng Yên. Chỗ ở: Số A đường T, phường P, tỉnh Hưng Yên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Hưng Yên. Quan hệ pháp luật là “Ly hôn”.
Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 229, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu B tự nguyện ký kết hôn ngày 26/10/1992 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Hưng Yên. Nay là Ủy ban nhân phường P, tỉnh Hưng Yên như vậy hôn nhân giữa bà H và ông B là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà H: Bà H và ông B, cũng như đại diện gia đình và các con, đều khẳng định vợ chồng ông bà mâu thuẫn từ năm 2016. Nguyên nhân là do ông B chơi bời nợ nần làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình nên bà H và ông B hay cãi nhau. Năm 2021-2022 ông bà sống ly thân, không còn quan tâm tới nhau, kinh tế độc lập. Đến nay, ông bà đều xác định không còn tình cảm vợ chồng. Bà H xin ly hôn, ông B đồng ý. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn cho ông bà.
[2.3] Về con chung: Bà H và ông B có 02 con chung là Nguyễn Thị Phi Đ, sinh năm 1993 và Nguyễn Hữu Khánh D, sinh năm 2003. Các con đều trên 18 tuổi, tự lập được. Ông bà đều không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung: Bà H và ông B tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí: Bà H và ông B cùng phải chịu 150.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu B.
- Về con chung: Các con đều trên 18 tuổi, tự lập được. Ông bà đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu B mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Bà H được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng bà đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E số 0001914 ngày 09/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Hưng Yên. Hoàn trả bà H số tiền thừa 225.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bà H và ông B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HƯNG YÊN về ly hôn
- Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huệ - Bính
