|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 656/2025/HS-PT
Ngày: 29-10-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 488/2025/TLPT-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn C do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1979, tại tỉnh Kiên Giang; nơi thường trú: I Đ, khu phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); nơi cư trú: 97 Tập đoàn F, phường T, quận B (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị B; bị cáo có vợ và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có 01 bị hại và 10 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần N2 (gọi tắt là Công ty N2) chuyên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua bán xi măng, có trụ sở chính đóng tại địa chỉ số H, đường Đ, khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Đặng Hồng S, sinh năm 1982, cư trú tại địa chỉ trên là người đại diện theo pháp luật với chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc.
Nguyễn Văn C là nhân viên tiếp thị của Công ty N2 từ năm 2008 đến tháng 9/2018 thì tự ý nghỉ việc. Trong thời gian làm việc tại Công ty N2, C được ông Đặng Hồng S giao nhiệm vụ quản lý một kho xi măng tại phường V, thị xã T, Bình Dương. Hàng ngày, C sẽ thực hiện việc bán xi măng tại kho này cho khách hàng và thu tiền rồi đem về trụ sở Công ty N2 để giao nộp bộ phận kế toán của công ty. Ngoài ra, C còn được ông S giao nhiệm vụ đi tiếp thị tìm kiếm khách hàng rồi báo về trụ sở Công ty N2 để công ty chở xi măng đến bán cho các khách hàng này và C sẽ đến trụ sở Công ty N2 lấy sổ theo dõi công nợ của từng khách hàng này để thu tiền rồi mang về giao nộp lại cho bộ phận kế toán của Công ty N2. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ tháng 8/2018 đến tháng 9/2018, C đã lấy sổ công nợ của Công ty N2 và đến thu tiền hàng của các khách hàng mua xi măng từ Công ty N2 với tổng số tiền là 159.494.000đ (một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm chín mươi tư ngàn đồng) rồi chiếm đoạt toàn bộ số tiền này và bỏ trốn; cụ thể như sau:
- Cửa hàng Anh S, địa chỉ tại khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương do anh Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1975, cư trú tại số A, khu phố B, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh làm chủ. Từ đầu năm 2016 đến cuối năm 2017, anh Á đặt mua xi măng của Công ty N2 thông qua Nguyễn Văn C. Đến cuối năm 2017, Cửa hàng Anh S ngừng kinh doanh và anh Ánh còn thiếu nợ tiền xi măng của Công ty N2 là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Sau đó, anh Á đã giao trả hết số tiền này cho C. Tuy nhiên, trước đó C đã thu số tiền 5.700.000đ (năm triệu bảy trăm nghìn đồng) của cửa hàng Anh S nhưng cũng chưa nộp về Công ty N2 (Theo sổ Công nợ giữa C và Công ty N2 là 35.700.000đ (ba mươi lăm triệu bảy trăm nghìn đồng)). Như vậy, tổng số tiền mà C thu của cửa hàng Anh S rồi chiếm đoạt là 35.700.000đ (ba mươi lăm triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Cửa hàng T5, địa chỉ tại huyện C, thành phố Hồ Chí Minh do chị Đặng Thị T1, sinh năm 1980, cư trú tại địa chỉ số I, xã N, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh làm chủ. Trong thời gian kinh doanh vật liệu xây dựng, chị T1 đặt mua xi măng của Công ty N2 thông qua Nguyễn Văn C. Khi C đến thu tiền thì sẽ mang sổ công nợ đến đối chiếu và chị T1 sẽ trả tiền cho C rồi kí tên T1 vào trong sổ công nợ xác nhận đã trả rồi đưa tiền mặt cho C. Lần cuối cùng C đến thu tiền là vào ngày 26/8/2018 nhưng C không mang sổ công nợ đến để chị T1 đối chiếu và chị T1 đã trả cho C số tiền 14.788.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm tám mươi tám nghìn đồng). Do C không mang sổ công nợ đến để thu tiền nên chị T1 chỉ đưa tiền cho C chứ không ký vào sổ công nợ. Đối với số tiền này, C đã ký xác nhận vào sổ công nợ giữa C và Công ty N2.
- Công ty N2 thông qua Nguyễn Văn C rồi tài xế Công ty N2 sẽ chở hàng đến giao. Nếu trả tiền trực tiếp, chị N sẽ đưa tiền cho C, còn nếu mua nợ thì chị N sẽ ghi biên nhận đưa cho tài xế mang về Công ty N2 để ghi vào sổ công nợ; sau đó, sẽ có nhân viên khác mang sổ công nợ đến đối chiếu và thu tiền sau. Tuy nhiên, vào 02 ngày 10/8/2018 và ngày 26/8/2018, C mang sổ công nợ đến gặp chị N và thu tiền mỗi lần 5.000.000₫ (năm triệu đồng) rồi chị N kí tên vào sổ công nợ của Công ty N2.
- Cửa hàng N3, địa chỉ tại khu phố F, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương do chị Vũ Thị T2, sinh năm 1980, cư trú tại địa chỉ trên làm chủ. Khi cần mua hàng, chị T2 sẽ liên hệ trực tiếp với Công ty N2 để báo rồi Công ty N2 cho tài xế chở xi măng đến giao. Sau đó, Chị T2 sẽ viết biên nhận gửi trả về công ty để công ty ghi vào sổ công nợ. Sau đó, hàng tuần sẽ có nhân viên công ty mang theo sổ công nợ đến cửa hàng đối chiếu để nhận tiền mang về nộp cho Công ty N2. Theo đó, phía Công ty N2 có nhiều người đến để lấy tiền hàng trong đó có Nguyễn Văn C. Lần cuối, C đến lấy tiền xi măng là vào ngày 26/8/2018; lúc này, C mang theo sổ công nợ đến gặp chị T2 và yêu cầu trả tiền. Do C đòi gấp nên chị T2 chỉ giao trả cho C số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) rồi chị T2 ký tên vào sổ Công nợ của Công ty N2.
- Riêng đối với cửa hàng Minh T3, do đây là khách hàng do Nguyễn Văn C tự tìm và giao dịch mua bán nên phía Công ty N2 không nắm rõ được địa chỉ cụ thể và hiện tại C cũng không nhớ chính xác địa chỉ của cửa hàng Minh T3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa thể làm việc được. Tuy nhiên, trên sổ công nợ của Công ty thể hiện vào tháng 8/2018, C đã thu số tiền 4.100.000đ (bốn triệu một trăm ngàn đồng) của cửa hàng Minh T3 nhưng chưa giao nộp về Công ty N2.
- Đối với những khách hàng khác mà C tự tìm và giao dịch mua bán, Công ty N2 không nắm rõ được tên cửa hàng và địa chỉ cụ thể, C đã thu và chiếm đoạt 84.906.000 đ (tám mươi tư triệu chín trăm lẻ sáu nghìn đồng).
Đến ngày 29/12/2023, Nguyễn Văn C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để đầu thú về việc trong khoảng thời gian từ khoảng tháng 8/2018 đến tháng 9/2018, C đã lợi dụng việc được đại diện theo pháp luật của Công ty N2 là ông Đặng Hồng S giao cho nhiệm vụ thu tiền từ khách hàng rồi giao nộp lại cho Công ty N2 để chiếm đoạt tổng số tiền 68.888.000 (sáu mươi tám triệu, tám trăm tám mươi tám nghìn đồng) của Công ty N2 nhưng thực tế số tiền mà C chiếm đoạt của Công ty N2 là 159.494.000đ (một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm chín mươi tư nghìn đồng) như đã nêu ở trên.
Vật chứng thu giữ:
- 04 cuốn sổ bán hàng và giao nhận tiền của cửa hàng T5, N, Minh T3, Thành T4. (Bút lục số 165 đến 182)
- 01 cuốn sổ công nợ giữa Nguyễn Văn C và Công ty N2. (Bút lục số 288 đến 300)
Ngày 17/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) giám định chữ ký, chữ viết Nguyễn Văn C và chữ viết có nội dung “Tôi cam kiết không làm lậm tiền công ty nữa” trên trang số 18; chữ ký, chữ viết Nguyễn Văn C, chữ viết “nợ” trên trang số 19; chữ ký không ghi họ tên trên trang số 21 của quyển tập nhãn hiệu Làng H, trang bìa có in dòng chữ “KHO VĨNH PHÚ, Anh C” và mẫu so sánh (Chữ ký chữ viết của Nguyễn Văn C trong 01 bản tự khai của Nguyễn Văn C đề ngày 29/12/202; 01 biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú đối với Nguyễn Văn C đề ngày 29/12/2023; 01 biên bản ghi lời khai của Nguyễn Văn C đề ngày 29/12/2023; 01 biên bản hỏi cung bị can của Nguyễn Văn C đề ngày 05/01/2024; 01 biên bản hỏi cung bị can của Nguyễn Văn C đề ngày 28/03/2024).
Theo kết luận giám định số 1328 ngày 21/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Chữ ký, chữ viết họ và tên “Nguyễn Văn C”, chữ viết có nội dung “Tôi cam kiết không làm lậm tiền của Công ty nữa”, “Nợ” và chữ ký không ghi họ tên trên 03 trang giấy có đóng dấu bút lục tài liệu cần giám định số 18, 19, 21 của phòng K Công an tỉnh B (ký hiệu A) so với chữ ký và chữ viết Nguyễn Văn C trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) do cùng một người ký và viết ra.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 02/01/2024, Nguyễn Văn C đã tác động bà Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1979, cư trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương là vợ của C thỏa thuận và bồi thường cho ông Đặng Hồng S số tiền 159.494.000₫ (một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm chín mươi tư ngàn đồng), ông S đã nhận đủ số tiền này và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với C. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm do C không nhận tội nên ông S đã có đơn xin rút lại đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho C và đề nghị xử lý Cum theo đúng quy định pháp luật.
Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực X Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào các điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tham ô tài sản”.
Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
Ngày 22/8/2025, bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo xin xem xét lại tội danh, bị cáo cho rằng không phạm tội “Tham ô tài sản”. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Bị cáo C là nhân viên Công ty N2, được giao nhiệm vụ thu tiền hàng của khách hàng (sau khi đã đối chiếu công nợ) trả cho công ty và có nghĩa vụ chuyển trả lại cho bộ phận kế toán, nhưng bị cáo C đã nhiều lần đến thu tiền hàng của 05 khách hàng và những cửa hàng khác do C tự tìm kiếm, tự thực hiện giao dịch) với tổng số tiền là 159.494.000 đồng (thấp nhất là 4.100.000 đồng, nhiều nhất là 30.000.000 đồng) rồi chiếm đoạt tiêu xài hết không hoàn trả lại cho Công ty và tự ý nghỉ việc bỏ đi khỏi địa phương, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn C không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn C đã thừa nhận hành vi nhiều lần chiếm đoạt của Công ty N2 với tổng số tiền 159.494.000 đồng từ việc đi lấy tiền hàng của các khách hàng của Công ty N2 nên cấp sơ thẩm đã xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo và bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho Công ty N2 nên áp dụng trong khung liền kề nhẹ hơn của điều luật theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự tuyên bị cáo mức án 05 năm tù là phù hợp, không nặng. Do đó, không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C. Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X - Thành Phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh cho bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về gia đình làm ăn nuôi vợ, con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Ngày 22/8/2025, Tòa án nhân dân khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, ngày 22/8/2025, bị cáo có đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
[2] Về thủ tục tố tụng: quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân khu vực 15, Thành phố Hồ Chí Minh, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn C thừa nhận: trong khoảng thời gian từ tháng 8/2018 đến tháng 9/2018, bị cáo Nguyễn Văn C đã lợi dụng việc được ông Đặng Hồng S (là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần N2) giao cho nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng, bán hàng và thu tiền bán hàng là xi măng của Công ty Cổ phần N2 cho các khách hàng rồi đem tiền về giao nộp lại cho Công ty Cổ phần N2, bị cáo Nguyễn Văn C đã nhiều lần thu tiền của các khách hàng (là các cửa hàng Anh S, Tiến P, T, Nhật H và Minh T3) với số tiền là 68.888.000₫ (sáu mươi tám triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng). Đồng thời, theo lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định bị cáo còn chiếm đoạt của bị hại nhiều lần với số tiền 84.906.000₫ (tám mươi bốn triệu chín trăm lẻ sáu nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 159.494.000đ (một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm chín mươi tư nghìn đồng) và sau đó bỏ trốn. Đến ngày 29/12/2023, bị cáo C đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu M để đầu thú.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người được giao nhiệm vụ bán hàng và thu tiền hàng nhưng bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ. Về nhận thức, bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của tổ chức khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” quy định tại Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên và số tiền chiếm đoạt là 159.494.000đ (một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm chín mươi bốn nghìn đồng) nên đã phạm vào điểm c, d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) mà tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá, áp dụng đầy đủ cho bị cáo.
[6] Xét kháng cáo của bị cáo, tại phiên tòa, bị cáo xin xem xét lại tội danh. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, hành vi của bị cáo, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, đánh giá đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Từ đó, tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tham ô tài sản” là đúng người, đúng tội. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết hay tài liệu nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[7] Tòa án cấp sơ thẩm, căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng với mức án 05 (năm) năm tù là không nặng nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để giảm nhẹ cho bị cáo.
[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo cho bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Án phí phúc thẩm: Bị cáo không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[10] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 344, Điều 345, điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào các điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 05 (năm) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
- Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Thư ký phiên tòa Bà Hồ Thị Hương Trầm |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ông Nguyễn Hữu Lâm |
Bản án số 656/2025/HS-PT ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự
- Số bản án: 656/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Cum bị xét xử về tội Tham ô tài sản
