TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 651/2025/HS-PT
Ngày: 05-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Ninh
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thư
Bà Thái Thị Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thi – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 490/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Hữu V.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai.
- Bị cáo:
Nguyễn Hữu V, sinh năm: 1996, tại: Phú Thọ; Nơi cư trú: khu T, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ (nay là xã P, tỉnh Phú Thọ); Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1969 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1968. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu V: Luật sư Đinh Trọng L- Văn phòng luật sư Đinh Trọng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (Có mặt).
Địa chỉ: B- A, đường L, khu dân cư A, phường T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại:
+ Ông Ngô Văn D, sinh năm 1973 (đã chết)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
Người đại diện hợp pháp của ông Ngô Văn D:
- Bà Thông Thị Cẩm T1, sinh năm 1979 (vợ ông Ngô Văn D)
- Chị Ngô Thị Kiều L1, sinh năm 1998 (Con ruột ông Ngô Văn D)
- Chị Ngô Thị Thanh M, sinh năm 1999 (Con ruột ông Ngô Văn D)
- Chị Ngô Thị Ngọc H, sinh năm 2002 (Con ruột ông Ngô Văn D)
- Chị Ngô Thị Cẩm L2, sinh năm 2005 (Con ruột ông Ngô Văn D)
Nơi thường trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
Chỗ ở hiện nay: 53, xóm D, thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
Nơi thường trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
Nơi thường trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
Nơi thường trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
Đại diện theo ủy quyền của bà T1, chị M, chị H, chị L2: Chị Ngô Thị Kiều L1, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
Chỗ ở hiện nay: 53, xóm D, thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
+ Chị Ngô Thị Kim A, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Nay là xã X, tỉnh Đồng Nai)
Đại diện theo ủy quyền: Anh Phan Thành D1, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Nay là xã X, tỉnh Đồng Nai)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Cháu Ngô Thị Kim T2 – sinh năm 2012 (con ruột ông Ngô Văn D).
Đại diện hợp pháp cho cháu T2 là bà Thông Thị Cẩm T1, sinh năm 1979 (mẹ ruột cháu T2) (Văng mặt)
Nơi thường trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng)
- Bị đơn dân sự: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973
Nơi thường trú: Tổ G, Phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Nay là phường L, tỉnh Lào Cai)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1965 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư C, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Nay là phường Â, tỉnh Phú Thọ)
- Người làm chứng: Anh Lê Duy M1, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
Địa chỉ: khu A, ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Nay là xã A, tỉnh Đồng Nai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu V có giấy phép lái xe ô tô hạng E, có giá trị đến ngày 29/11/2028 (được điều khiển xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi).
Khoảng 04 giờ 41 phút ngày 16/7/2024, V điều khiển xe ô tô chở khách biển số 24B-009.54 (loại xe ô tô chở khách 02 chỗ ngồi và 34 chỗ nằm) lưu thông trên Quốc lộ A, hướng từ ngã tư Vũng Tàu đi vòng xoay T.
Khi đi đến đoạn đường cách đèn tín hiệu giao thông giao nhau giữa Quốc lộ A với đường số C và đường 17A khoảng 40m (ngã tư B), đèn tín hiệu giao thông đang ở trạng thái đỏ nên V điều khiển xe dừng lại ở làn đường số 2 (tính từ dải phân cách ở giữa đường). Khi đèn tín hiệu giao thông chuẩn bị chuyển từ màu đỏ sang màu xanh, Vững quan sát ở làn đường số 1, (sát dải phân cách giữa đường) không có phương tiện lưu thông nên V bật xi nhan trái, điều khiển xe đi sang làn đường số 1 để lưu thông. Vững tiếp tục điều khiển xe đến gần vạch tín hiệu đèn giao thông, quan sát thấy đèn tín hiệu giao thông chuyển từ màu đỏ sang màu xanh (được phép đi) nên V dùng chân đạp ga điều khiển xe để đi. Khi xe của V điều khiển đi qua đèn tín hiệu thì V nhìn thấy xe ô tô đầu kéo biển số 51C-964.16 kéo theo rơmoóc biển số 51R-304.00 do anh Lê Duy M1 (sinh năm 1981, trú tại ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai) lưu thông từ đường 2A đi xiên xéo băng qua đường Q để lưu thông hướng ngã tư Vũng Tàu. Do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ tại nơi giao nhau nên xe ô tô do V điều khiển lưu thông vừa đến gần xe ô tô do anh M1 điều khiển, thì V điều khiển xe sang trái để tránh xe của anh M1 (Do anh M1 đạp phanh cho xe dừng lại nên hai xe không va chạm nhau). Vững tiếp tục điều khiển xe ô tô sang trái đi sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều (đoạn km 1868+200, thuộc khu phố E, phường A, thành phố B). Lúc này V thấy trên đường ngược chiều có các phương tiện lưu thông theo hướng ngược lại nên V đánh hết lái điều khiển xe chạy hướng vào đường số C, nhưng do V không làm chủ tay lái nên đã để phần phía trước của xe ô tô biển số 24B-009.54 đụng vào bên trái xe mô tô biển số 60R3-3654 do chị Ngô Kim A (sinh năm 1983, trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai) điều khiển và xe mô tô biển số 86B4-37299 do ông Ngô Văn D (sinh năm 1973, trú tại: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) điều khiển lưu thông trên Quốc lộ A, hướng ngược lại (từ vòng xoay T đi ngã tư Vũng Tàu) gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông D tử vong và chị Kim A bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 16/7/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác định như sau:
Nơi xảy ra tai nạn giao thông là ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ A với đường số C và đường A (Theo hướng từ ngã tư Vũng Tàu đi vòng xoay T: bên trái là đường số 3 và bên phải là đường A, đường B nằm song song bên phải với Quốc lộ 1A), thuộc khu phố 5, phường An Bình, thành phố Biên Hoà.
Đường Quốc lộ 1A hướng ngã tư Vũng Tàu đi vòng xoay T có 4 làn đường, trong đó có 03 làn đường ô tô, có vạch sơn đứt quãng phân chia làn đường và 01 làn đường hỗn hợp. Ở giữa đường có dải phân cách bằng bê tông phân chia chiều đường. Trên mép đường phải có gắn hệ thống đèn tín hiệu giao thông.
Các dấu vết, vị trí xe ô tô đầu kéo biển số 51C - 964.16 kéo theo rơ móọc biển số 51R - 304.00 được đo vào vạch thẳng hàng nối mép hai đầu dải phân cách cố định bên phải đường hướng ngã tư Vũng Tàu đi vòng xoay T (viết tắt là vạch thẳng hàng bên phải).
Các dấu vết, vị trí xe ô tô khách biển số 24B - 009.54, xe mô tô biển số 86B4-372.99, xe mô tô biển số 60R3-3654, vết cày và vết máu được đo vào vạch thẳng hàng nối hai đầu lề đường bên trái hướng ngã tư Vũng Tàu đi vòng xoay T (viết tắt là vạch thẳng hàng bên trái).
Trụ điện số 5 làm mốc. Trụ điện đặt ở dải phân cách giữa đường số C và đường H. T3 bánh xe trước bên trái xe ô tô biến số 24B-009.54 cách trụ điện là 21m.
Trụ đèn chiếu sáng số A làm mốc. Trụ đèn đặt ở dải phân cách giữa đường B và Quốc lộ A. T3 bánh xe trước bên trái xe ô tô biển số 51C-964.16 cách trụ đèn là 30m.
- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C - 964.16 kéo theo rơ moóc biển số 51R - 304.00 dừng trên Quốc lộ A ở làn đường số 1 theo hướng từ ngã tư Vũng Tàu đi vòng xoay T, đầu xe xiên xéo hướng ngã tư Vũng Tàu, đuôi xe xiên xéo đường 2A hướng vòng xoay T. Trục bánh xe sau bên trái rơ móoc, trục bánh xe sau bên trái và trục bánh xe trước bên trái của xe đầu kéo cách vạch thẳng hàng bên phải lần lượt là 11m, 17m và 19m. Từ bánh trước bên trái đầu kéo cách đầu dải phân cách ở giữa phân chia chiều đường về hướng ngã tư Vũng Tàu là 21m.
Xe ô tô khách biển số 24B - 009.54 dừng trên đường số C, đầu xe hướng đường số C, đuôi xe hướng đường A, trục bánh xe trước bên phải và trục bánh xe sau bên phải cách vạch thẳng hàng bên trái lần lượt là 08m50 và 02m, trục bánh xe trước bên trái và trục bánh xe sau bên trái cách đầu dải phân cách ở giữa chia chiều đường hướng ngã tư Vũng Tàu đi vòng xoay T lần lượt là 30m50 và 26m50.
Xe mô tô biển số 86B4-372.99 nằm ngã nghiêng bên phải trên đường số C, đầu xe hướng ngã tư Vũng Tàu, đuôi xe hướng vòng xoay T, trục bánh trước và bánh sau cách vạch thẳng hàng bên trái là 11m30.
Xe mô tô biển số 60R3-3654 nằm ngã nghiêng bên phải trên đường số C, đầu xe hướng ngã tư Vũng Tàu, đuôi xe hướng vòng xoay T, trục bánh trước và phía sau cách vạch thẳng hàng bên trái là 10m50, trục bánh xe trước cách bánh xe sau mô tô biển số 86B4-327.99 là 01m, trục bánh xe sau cách trục bánh xe trước bên phải xe ô tô biển số 24B-009.54 là 02m30.
Dấu vết cày 1 do xe mô tô biển 60R3-3654 tạo ra mặt đường, vết cày đứt quãng có chiều từ đường Q về đường số C, vết cày dài 12m20, đầu vết cày nằm trên Quốc lộ A cách vạch thẳng hàng bên trái là 2m60 và cách bánh xe sau bên phải xe ô tô biển số 24B-009.54 là 05m.
Dấu vết cày 2 do xe mô tô biển số 86B4-372.99 tạo ra trên mặt đường, vết cày đứt quãng có chiều từ đường Q về đường số C, vết cày dài 9m20, đầu vết cày nằm trên Quốc lộ A cách vạch thẳng hàng bên trái là 01m.
Dấu vết máu 1 in trên mặt đường số 3, có kích thước 0m10x0m20, tâm vết máu cách vạch thẳng hàng bên trái là 9m80 và cách bánh xe sau xe mô tô biển 60R3-3654 là 3m80.
Dấu vết máu 2 in trên mặt đường số C, có kích thước 0m10x0m10, tâm vết máu cách vạch thẳng hàng bên trái là 6m20, cách tâm vết máu 1 là 4m20 và cách vết cày 1 là 10m.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- Xe ô tô biển số 24B-009.54: Góc bên phải phía dưới kính chắn gió trước bị nứt vỡ. Cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải bị bể vỡ. Cản trước bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu.
- Xe mô tô biển 60R3-3654: Vè chắn bùn phía trước bị bể vỡ, bung khỏi vị trí ban đầu. Yếm chắn gió hai bên bị bể vỡ, bung khỏi vị trí ban đầu. Ốp nhựa để chân trước bên phải bị mài mòn. Ốp nhựa để chân trước bên trái bị bể vỡ, bung khỏi vị trí ban đầu. Chân chống nghiêng bên trái bị gãy. Ốp inox bảo vệ lốc máy móp thụng, có dính chất màu đỏ. Gác chân sau bên phải bị mài mòn. Ốp inox bảo vệ bộ phận giảm thanh bị mài mòn.
- Xe mô tô biển số 86B4-372.99: Đầu tay lái bên phải bị mài mòn. Yếm chắn gió bên phải bị mài mòn. Ốp nhựa gác chân trước bên phải bị mài mòn. Gác chân sau bên phải bị mài mòn. Ốp inox bảo vệ bộ phận giảm thanh bị mài mòn. Vè chắn bùn trước bị bể vỡ. Yếm chắn gió bên trái phía bị bể vỡ. Ốp nhựa bảo vệ lốc máy máy bên trái bị nứt vỡ.
- Xe ô tô đầu kéo biển số biển số 51C - 964.16 kéo theo rơ moóc biển số 51R-304.00: Không ghi nhận dấu vết liên quan đến tai nạn.
* Tại bản kết luận giám định số 1487/KL-KTHS ngày 23/08/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã xác định:
- Phía trước và phía trước bên phải của xe ô tô biển số: 24B-009.54 (dấu vết trượt, xước, nứt vỡ, biến dạng, mất sơn màu đỏ tại các chi tiết phía trước và phía trước bên phải: lưới tản nhiệt, biển số, cụm đèn tín hiệu và cụm đèn chiếu sáng; cản trước dính chất màu trắng và màu đen) có cùng chiều từ trước ra sau; phù hợp va chạm với phía trước và bên trái của xe mô tô biển số: 60R3-3654 (dấu vết trượt, xước, nứt vỡ, biến dạng, dính chất màu đỏ tại các chi tiết phía trước và bên trái: vè chắn bùn, giảm sóc trước bên trái, mặt nạ, yếm chắn gió, ốp đầu lốc máy) có cùng chiều từ trước về sau, trái qua phải. Khi hai xe trong trạng thái ngược chiều lưu thông.
- Phía trước của xe ô tô biển số 24B-009.54 (dấu vết trượt, xước, nứt vỡ, biến dạng, mất sơn màu đỏ tại các chi tiết phía trước: lưới tản nhiệt, biển số, cản trước; ốp đầu xe dính chất màu xanh) có cùng chiều từ trước ra sau; phù hợp va chạm với bên trái xe mô tô biển số 86B4-372.99 (dấu vết trượt, xước, nứt vỡ, biến dạng và dính chất màu đỏ tại các chi tiết bên trái: ốp bệ gác chân trước, ốp sườn, ốp đầu lốc máy, cần khởi động, khung gác chân sau, ốp cuối lốc máy, yếm chắn gió mất sơn màu xanh) có cùng chiều từ trước về sau, trái qua phải. Khi hai xe trong trạng thái ngược chiều lưu thông.
- Không phát hiện dấu vết va chạm của xe ô tô đầu kéo biển số: 51C-964.16 kéo theo rơ moóc biển số: 51R-304.00 với các phương tiện còn lại trong quá trình xảy ra sự việc.
- Dấu vết trượt, xước, mài mòn tại các chi tiết bên phải: đầu tay cầm lái, đầu tay thắng, yếm chắn gió, bệ gác chân trước, khung gác chân sau, ống xả, thanh nâng của xe mô tô biển số: 86B4-372.99 có cùng chiều từ phải qua trái; phù hợp va chạm mặt đường khi xe ngã.
- Dấu vết trượt xước, mài mòn tại các chi tiết bên phải: đầu tay cầm lái, đầu tay thắng, ốp bệ gác chân trước của xe mô tô biển số: 60R3-3654; có cùng chiều từ phải qua trái; phù hợp va chạm mặt đường khi xe ngã.
- Không xác định được điểm va chạm đầu tiên trên phương tiện giữa xe ô tô biển số: 24B-009.54 với xe mô tô biển số: 86B4-372.99 và xe mô tô biển số: 60R3-3654.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1464/KL-KTHS ngày 22/07/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Ngô Văn D như sau:
- Đa chấn thương, chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện, dập xuất huyết não, chấn thương ngực - bụng kín, gãy xương sườn, dập phổi, vỡ tim, vỡ gan.
* Bản kết luận giám định độc chất số 1037/1356-1357/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 16/08/2024 của P tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận Ngô Văn D: Không tìm thấy cồn và các chất ma túy.
* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ 1327/KLTgTHS TTPYĐN, ngày 08/01/2025 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ kết luận chị Ngô Thị Kim A:
- Vết thương môi trên khoảng 60cm. Tỷ lệ 06%.
- Gãy 1/3 ngoài xương đòn phải. Tỷ lệ 06%.
- Gãy trật đầu dưới xương quay trái. Tỷ lệ 06%.
- Gãy mỏm trâm trụ trái. Tỷ lệ 06%.
- Gãy xương bàn ngón IV chân trái. Tỷ lệ 03%.
- Gãy mỏm ngang trái đốt sống cổ C7, gãy mỏm ngang trái đốt sống ngực D1, gãy mỏm ngang trái đốt sống ngực D2. Tỷ lệ 11%.
- Gãy đầu trong khung sau xương sườn I trái. Tỷ lệ 02%.
- Xuất huyết dưới nhện. Tỷ lệ 08%.
- Dập xuất huyết não vùng thái dương, chẩm phải. Tỷ lệ 21%.
- Xuất huyết dọc liềm não, lều tiểu não hai bên (tụ máu dưới màng cứng). Tỷ lệ 08%.
- Gãy xương hàm dưới vùng cằm phải. Tỷ lệ 08%.
- Nứt mỏm huyệt răng xương hàm trên trái. Tỷ lệ 01%.
- Rách niêm mạc ngách hành lang vùng cằm (vết mổ). Tỷ lệ 01%.
- Rách da 05 cm trên ổ gãy xương đòn phải (vết mổ). Tỷ lệ 01%.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61%.
* Về vật chứng vụ án: Xe ô tô biển số 24B-009.54, xe ô tô đầu kéo biển số 51C- 964.16 kéo theo rơmoóc biển số 51R-304.00, xe mô tô biển số 86B4-372.99 và xe mô tô biển số 60R3-3654, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh nguồn gốc rõ ràng nên đã giao trả cho chủ sở hữu.
- 01 đĩa chứa dữ liệu video vụ tai nạn giao thông.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Nguyễn Hữu V và ông Nguyễn Ngọc H2 đại diện theo ủy quyền chủ sở hữu xe ô tô biển số 24B - 009.54 đã bồi thường cho gia đình ông Ngô Văn D số tiền 187.500.000 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) và bồi thường cho chị Ngô Thị Kim A số tiền 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại tự nguyện viết đơn bãi nại.
- Anh Lê Duy M1 và ông Phạm Trung D2 đại diện theo ủy quyền chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo biển số 51C - 964.16 kéo theo rơ móoc biển số 51R - 304.00 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Ngô Văn D số tiền 62.500.000₫ (Sáu mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) và bồi thường cho chị Ngô Thị Kim A số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng).
Tại bản án sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V 01 (Một) năm 10 (M2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05 tháng 8 năm 2025 bị cáo Nguyễn Hữu V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:
- Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hữu V.
- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai theo hướng: Giữ nguyên mức hình phạt, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo V phát biểu quan điểm:
Thống nhất về tội danh, tuy nhiên bị cáo làm đơn kháng cáo để xin Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Bị cáo V không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Ngoài ra bị cáo còn là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động theo Đơn xác nhận của UBND xã P. Bản thân ông ngoại của bị cáo là ông Nguyễn Văn L3 được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Mặc khác, người bị hại và gia đình của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì bị cáo V đủ điều kiện được xem xét cho hưởng án treo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo V theo hướng giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức kháng cáo:
Đơn kháng cáo của bị cáo được nộp trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 04 giờ 45 phút ngày 16/7/2024, tại Km 1868+200 Quốc lộ A (đoạn giao nhau giữa Quốc lộ A với đường số C và đường A), thuộc khu phố E, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là KP5 A, phường T, tỉnh Đồng Nai), bị cáo Nguyễn Hữu V có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ô tô khách biển số 24B - 009.54. Do thiếu chú ý quan sát và không giảm tốc độ khi qua ngã tư, bị cáo không làm chủ được tay lái, dẫn đến va chạm với xe đầu kéo biển số 51C - 964.16 kéo theo rơmoóc biển số 51R - 304.00 do anh Lê Duy M1 điều khiển, rồi đi sang phần đường dành cho xe chạy ngược chiều, gây tai nạn giao thông với hai xe mô tô:
- Xe mô tô biển số 86B4 - 372.99 do ông Ngô Văn D điều khiển.
- Xe mô tô biển số 60R3 - 3654 do chị Ngô Thị Kim A điều khiển.
Hậu quả: Ông D tử vong, chị Kim A bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 61%.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hữu V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin hưởng án treo:
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu V, thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại và gia đình họ. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đại diện gia đình bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng minh: Bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, được chính quyền địa phương xác nhận. Ông ngoại của bị cáo, ông Nguyễn Văn L3 là người có công với cách mạng, được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Việc cho hưởng án treo sẽ không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội.
Do đó, căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy: Kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt theo hướng:Giữ nguyên mức hình phạt 1 năm 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 3 năm 8 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu V không phải chịu án phí theo quy định.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hữu V.
- Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu V không phải chịu án phí.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai theo hướng giữ nguyên hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 3 năm 8 tháng tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05/12/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Hữu V cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Ninh |
Bản án số 651/2025/HS-PT ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 651/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông đường bộ, chuyển treo
