Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3- HUẾ

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 64/2025/ DS-ST

Ngày 14/10/2025

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và ông Lê Đình Hòa.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Hằng, Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 3-Huế, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trường Thi, Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3- Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2025/TLST-DS ngày 24/4/2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 10/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N (A1); địa chỉ: Số B L, phường G, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền:

- Ông Nguyễn Văn Minh P - chức vụ: Giám đốc A1 chi nhánh H, Huế (theo văn bản uỷ quyền ngày 01/11/2022), vắng mặt.

- Bà Đinh Khắc Nhật T, sinh năm 1985 – chức vụ: Phó Giám đốc ngân A1 chi nhánh H1 (theo quyết định uỷ quyền số ngày 02/6/2025 của Giám đốc A1 chi nhánh H, Huế) địa chỉ: Số A, đường C, phường H, thành phố H, có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P1 (đã chết) và bà Hà Thị S sinh năm 1948; cùng địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thành phố H, bà S vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn (ông Nguyễn Tấn P1):

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thành phố H, vắng mặt.

- Ông Nguyễn Tấn K, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thành phố H, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ông Nguyễn Tấn G, sinh năm 1971, địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thành phố H, vắng mặt.

- Ông Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thành phố H, vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Tấn G, sinh năm 1971 và bà Lê Thị G1, địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thành phố H, đều vắng mặt.

- Ông Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1986 và bà Lê Thị D, địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thành phố H, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đều trình bày:

Ngân hàng N (sau đây viết tắt là A1) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/3/2025 là 286.882.961 đồng. Trong đó nợ gốc 235.000.000 đồng, nợ lãi 51.882.961 đồng, cụ thể:

Theo Hợp đồng tín dụng số 4002-LAV-202201978 ngày 29/7/2022, ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S đã vay của A1 với số tiền 300.000.000 đồng. Mục đích vay: Chăn nuôi bò và tiêu dùng khác; Thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 29/7/2022 đến hết ngày 28/7/2023; Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân: 9.5%/năm. Lãi suất được điều chỉnh định kỳ tối thiểu 03 tháng/lần theo quy định của A1 qua từng thời kỳ; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Phương thức thanh toán: Trả nợ gốc vào ngày đến hạn trả nợ ghi trên giấy nhận nợ. Trả nợ lãi vào ngày cuối cùng hàng tháng.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S đã thanh toán cho A1 nợ gốc gồm 65.000.000 đồng, nợ lãi: 14.893.151 đồng. Đến ngày 31/3/2023 thì ông P1 bà S dừng thanh toán. Tổng cộng số tiền ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S đã trả cho A1 là 79.893.151 đồng. A1 đã nhiều lần yêu cầu ông P1 bà S trả nợ nhưng ông P1 bà S không có thiện chí trong việc trả nợ. Do ông P1 bà S vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên số nợ vay còn thiếu đã bị chuyển nợ quá hạn với mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 28/7/2023.

Tính đến ngày 31/3/2025, ông P1 bà S còn nợ của A1 theo hợp đồng tín dụng nói trên gồm 286.882.961 đồng, trong đó nợ gốc: 235.000.000 đồng, nợ lãi: 51.882.961 đồng. Do đó A1 khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Tấn P1 và bà Hà Thị S phải trả toàn bộ số nợ trên và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/4/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho A1.

Ngày 21/7/2022, ông P1 bà S dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 366, tờ bản đồ số 09 toạ lạc tại Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Thôn L, phường K, thành phố H, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 233118, do UBND huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND phường K, thành phố H) cấp ngày 30/10/2007, cập nhật thay đổi nội dung ngày 18/11/2008 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng thế chấp số 4002-LCL-202201146/HĐTC ngày 21/7/2022 giữa A1 với ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S. Hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, ông P1 bà S đã tiếp tục thanh toán cho A1 số tiền nợ gốc 18.900.000 đồng.

Tính đến ngày 14/10/2025, ông P1 bà S còn nợ A1 tổng số tiền gồm 282.2103.593 đồng. Trong đó nợ gốc 216.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 52.023.296 đồng, nợ lãi quá hạn 14.087.297 đồng. Do ông Nguyễn Tấn P1 đã chết vào năm 2023 nên A yêu cầu Toà án buộc bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1 phải trả toàn bộ số nợ trên và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/10/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho A1.

Trường hợp bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1 không trả đủ nợ thì A1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói trên của ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S để thu hồi nợ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/8/2025, bị đơn là bà Hà Thị S trình bày: Bà xác nhận trước đây vợ chồng bà có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng để vay số tiền nói trên. Nay do ông P1 đã chết, bản thân bà ốm đau, không có khả năng trả nợ nên bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện tài sản dùng để thế chấp cho Ngân hàng nhằm đảm bảo khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 366, tờ bản đồ số 09 toạ lạc tại Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Thôn L, phường K, thành phố H đang do bà và vợ chồng các con quản lý sử dụng. Trong trường hợp không trả được nợ, bà đồng ý để ngân hàng xử lý tài sản đã nói trên.

Tại bản tự khai ngày 20/8/2025, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà thống nhất với lời khai của Ngân hàng về số tiền còn nợ như trên là đúng. Do hoàn cảnh khó khăn nên bà xin được trả số tiền nợ gốc 235.000.000 đồng trong thời gian 01 năm. Chậm nhất đến ngày 23/8/2026 sẽ trả toàn bộ số tiền nợ, đồng thời bà đề nghị A1 giảm lãi vì lãi suất quá cao.

Tại bản tự khai ngày 20/8/2025, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là ông Nguyễn Tấn K trình bày:

Ông thống nhất với lời khai của Ngân hàng về số tiền còn nợ như trên là đúng. Thực tế đây là khoản vay của bà Nguyễn Thị L nhờ bố mẹ ông là ông P1 và

bà S đứng tên vay giúp. Nay Ngân hàng khởi kiện thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, A1 thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là các ông bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Tấn K, Nguyễn Tấn G, ông Tấn T1 phải trả số nợ là 282.210.593 đồng. Trong đó nợ gốc 216.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 52.023.296 đồng, nợ lãi quá hạn 14.087.297 đồng và không yêu cầu bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn phải thanh toán tiền phạt chậm thanh toán lãi là 13.102.245 đồng. Đồng thời yêu cầu bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1 phải trả tiền lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 15/10/2025 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ gốc. A1 không đồng ý với toàn bộ ý kiến của bà L về lộ trình trả nợ cũng như việc xem xét giảm lãi, phương thức trả nợ dần mà bà L đưa ra.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Hà Thị S, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến Toà án để làm việc, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, bà Hà Thị S, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố H có ý kiến như sau:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền và nghĩa vụ của đương sự được bảo đảm.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là A1: Buộc bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1 phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ cho A1 tính đến ngày 14/10/2025 là 282.210.593 đồng. Trong đó nợ gốc 216.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 52.023.296 đồng, nợ lãi quá hạn 14.087.297 đồng.

Trường hợp bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền còn nợ thì A1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay theo các hợp đồng thế chấp đã ký. Về án phí: Bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ngân hàng N là nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S, có địa chỉ tại: Tổ dân phố L, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường K, thành phố H) nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3- Huế, thành phố H.

[1.2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn khởi kiện bị đơn là ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S; tuy nhiên, hiện ông Nguyễn Tấn P1 đã chết vào năm 2023 (theo công văn cung cấp thông tin số 315/CAP ngày 10/6/2025 của Công an phường H, thành phố H). Vì vậy cần căn cứ vào Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Tấn P1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng để tham gia tố tụng tại Toà án, gồm các ông bà: Nguyễn Tấn K, Nguyễn Tấn G, Nguyễn Tấn T1, Nguyễn Thị L.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập đối với bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1 nhưng các đương sự này không đến làm việc, bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ và căn cứ và các tài liệu chứng cứ thu thập được để giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Đối với việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi sau khi trừ số tiền nợ gốc 18.900.000 đồng mà bị đơn đã thanh toán vào các ngày 18, 24 và 28/4/2025; cụ thể, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền là 282.210.593 đồng; trong đó: Nợ gốc 216.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 52.023.296 đồng, nợ lãi quá hạn 14.087.297 đồng. Nhận thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa nguyên đơn với ông Nguyễn Tấn P1 và bà Hà Thị S đều được các bên thừa nhận và thực hiện nên có hiệu lực thi hành.

Bà Hà Thị S, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Tấn K và nguyên đơn đã tự nguyện xác nhận: Tính đến ngày 14/10/2025, bà S còn nợ nguyên đơn tổng cộng số tiền là 282.210.593 đồng; trong đó: Nợ gốc 216.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn 52.023.296 đồng, nợ lãi quá hạn 14.087.297 đồng. Nhận thấy nội dung xác nhận này là phù hợp với số tiền nợ còn lại của hợp đồng tín dụng được các bên ký kết, là

những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn còn nợ của nguyên đơn số tiền này.

Do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền đầy đủ theo hợp đồng là vi phạm cam kết được quy định tại các hợp đồng; vi phạm các quy định về chậm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo các Điều 280, Điều 282 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định về Chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ, miễn, giảm lãi suất, thì: “1. Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng...”; vì vậy, A1 khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.3] Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị L xin được xem xét giảm lãi và được trả nợ dần, thì thấy: Tại khoản 1 và 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay, thì: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác;...5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi....”. Như vậy, theo quy định thì bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn, do nguyên đơn không chấp thuận ý kiến của bà L nên không có căn cứ chấp nhận. Mặt khác, bên cạnh việc phải trả số tiền nợ gốc và lãi theo yêu cầu của nguyên đơn, kể từ ngày tiếp theo thời điểm xét xử, bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số tiền nợ còn lại, theo mức lãi suất hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

[2.4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn, thì thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 402-LCL-202201146 ngày 21/7/2022 được ký kết giữa nguyên đơn với ông Nguyễn Tấn P1, bà Hà Thị S, là hoàn toàn tự nguyện, đã được đăng ký biện pháp bảo đảm, phù hợp pháp luật nên có hiệu lực thi hành. Theo cam kết tại Điều 2 của hợp đồng thế chấp thì phạm vi bảo đảm toàn bộ nghĩa vụ trả nợ vay gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả và các nghĩa vụ khác.

Tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự quy định về Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, thì: “1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; 2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận hoặc theo quy định của luật...”; tại Điều 322 của Bộ luật Dân sự quy định về Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp, thì: “1. Trả các giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp đối với trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp; 2. Thực hiện thủ tục xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.”; tại khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định về Quyền của bên nhận thế chấp, thì: “1...7. Xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.”; tại khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định về Chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ, miễn, giảm lãi suất, thì: “1...2. Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo

đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng N1.”. Như vậy, căn cứ vào các điều luật viện dẫn trên, trong trường hợp phía bị đơn trả hết nợ thì nguyên đơn phải có nghĩa vụ thực hiện thủ tục giải chấp tài sản thế chấp và hoàn trả giấy tờ của tài sản thế chấp cho bị đơn; trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 366, tờ bản đồ số 09 toạ lạc tại Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Thôn L, phường K, thành phố H, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 233118, do UBND huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND phường K, thành phố H) cấp ngày 30/10/2007, cập nhật thay đổi nội dung ngày 18/11/2008, để thu hồi nợ.

[2.5] Ông Nguyễn Tấn P1 là bị đơn trong vụ án đã chết nên những người thừa kế của ông P1 kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông P1. Tại khoản 1 và 2 Điều 615 của Bộ luật Dân sự quy định về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, thì: “1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác; 2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.”. Như vậy, căn cứ vào quy định trên thì những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P1 là các ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1, bà Nguyễn Thị L chỉ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của ông Nguyễn Tấn P1 để trả nợ cho nguyên đơn trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Tấn P1 chết để lại.

Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A1, buộc bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L phải trả cho A1 tổng cộng số tiền là 282.2103.593 đồng; trong đó: Nợ gốc là 216.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 52.023.296 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.087.297 đồng; ngoài ra còn phải tiếp tục trả tiền lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 15/10/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định. Trường hợp không trả nợ thì A1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Các ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L chỉ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của ông Nguyễn Tấn P1 để trả nợ trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Tấn P1 chết để lại.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ gồm 2.000.000 đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này và đã nộp đủ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm gồm 14.110.530 đồng [(0,5% x 282.2103.593 đồng) = 14.110.530 đồng].

- Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 186; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280; Điều 282; Điều 299; Điều 320; Điều 321; Điều 323; Điều 351; Điều 365; Điều 463; Điều 466; Khoản 1 Điều 468; Khoản 2 Điều 470; Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng N.

Buộc bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L phải trả cho Ngân hàng N tổng cộng số tiền là 282.2103.593 đồng; trong đó: Nợ gốc là 216.100.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 52.023.296 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.087.297 đồng. Kể từ ngày 15/10/2025, bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Các ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L chỉ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của ông Nguyễn Tấn P1 để trả nợ trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Tấn P1 chết để lại.

Trường hợp bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Liên thanh T2 xong nợ thì Ngân hàng N có trách nhiệm thực hiện thủ tục giải chấp tài sản thế chấp và hoàn trả giấy tờ của tài sản thế chấp cho bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L.

2. Về xử lý tài sản thế chấp:

Trường hợp bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản tiền trên, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là nhà và quyền sử dụng đất thửa đất số 366, tờ bản đồ số 09 toạ lạc tại Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Thôn L, phường K, thành phố H, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 233118, do UBND huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND phường K, thành phố H) cấp ngày 30/10/2007, cập nhật thay đổi nội dung ngày 18/11/2008, để thu hồi nợ. Sau khi trừ đi các khoản chi phí phát mãi theo quy định của pháp luật, số tiền phát mãi được dùng để thanh toán cho Ngân hàng N.

Trường hợp số tiền phát mãi sau khi trả hết nợ nếu còn thừa, thì trả lại cho bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà

Nguyễn Thị L; trường hợp số tiền phát mãi không đủ để trả nợ thì bà Hà Thị S, ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị Liên tiếp T3 có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu cho Ngân hàng N; trong đó: ông Nguyễn Tấn K, ông Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1 và bà Nguyễn Thị L chỉ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với tài sản khác của ông Nguyễn Tấn P1 (ngoài tài sản đã thế chấp) để trả nợ trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Tấn P1 chết để lại.

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định gồm 2.000.000 đồng và đã nộp đủ.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Hà Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn P1 là các ông bà Nguyễn Tấn K, Nguyễn Tấn G, ông Nguyễn Tấn T1, Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm gồm 14.110.530 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng N (A1) số tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm 7.172.000 đồng theo biên lai thu tiền số 001806 ngày 24/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, thành phố H (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Huế, thành phố H).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Huế;
  • - VKSND khu vực 3- Tp Huế;
  • - Phòng Thi hành án KV3- Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/DS-ST ngày 14/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 64/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger