|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày 19 tháng 11 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Việt - Nguyên cán bộ phòng giáo dục thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Ông Lý Tuấn Phong - Bí thư đoàn phường Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 55/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Trúc N, sinh ngày: 13/9/2008, tại phường M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Số G, khu dân cư Đ, khóm A, phường M, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Không rõ nhân thân; Mẹ: Nguyễn Thị Bé L, sinh năm: 1988; có 03 anh em, bị cáo thứ hai; bị cáo chưa có chồng, con;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/6/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Trúc N: Bà Trần Thị Kim L1, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Số G, khu dân cư Đ, khóm T, phường M, tỉnh An Giang (Là bà ngoại bị cáo N, có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Trúc N: Ông Đinh Quang K, là Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm T6 tỉnh An Giang. Địa chỉ: Số H, đường L, phường L, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại: Em Phạm Huỳnh Thanh T, sinh ngày 15/7/2011. Nơi cư trú: Số B T, khóm F, phường L, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của Phạm Huỳnh Thanh T: Bà Tăng Thị Huệ K1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Số A, khu dân cư Đ, khóm A, phường M, tỉnh An Giang (Là mẹ ruột T, có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Em Lê Thị Tuyết N1, sinh ngày 05/12/2009. Nơi cư trú: Lô G, khóm H, phường M, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của Lê Thị Tuyết N1: Ông Lê Hồng N2, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Lô G, khóm H, phường M, tỉnh An Giang (Là cha của N1, có mặt).
- + Em Lý Mộng T1, sinh ngày 24/12/2010. Nơi cư trú: Số A, khóm T, phường M, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của Lý Mộng T1: Bà Lý Thị T2, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Số A, khóm T, phường M, tỉnh An Giang (là mẹ của T1, có mặt).
- + Em Phùng Hữu P, sinh ngày 19/12/2011; Nơi cư trú: Số B, khóm A, phường M, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của Phùng Hữu P: Ông Nguyễn Hồng C, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Số B, khóm A, phường M, tỉnh An Giang (Là ông nội của P, có mặt).
- + Em Nguyễn Như T3, sinh năm 16/11/2010. Nơi cư trú: Khóm T, phường M, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Như T3: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Khóm T, phường M, tỉnh An Giang (là mẹ của T3, có mặt).
- Người làm chứng:
- + Em Nguyễn Thị Bích T4, (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Bích T4: Ông Nguyễn Văn B (là cha của T4, có mặt)
- + Em Nguyễn Thị Hoàng O, (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Hoàng O: Bà Nguyễn Thị Bích P1 (là mẹ của O, có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Trúc N (sinh ngày 13 tháng 9 năm 2008) có mâu thuẫn từ trước với em Phạm Huỳnh Thanh T (sinh ngày 15 tháng 7 năm 2011). Khoảng 11 giờ ngày 07 tháng 02 năm 2025, Như rủ Lê Thị Tuyết N1 (sinh ngày 05 tháng 12 năm 2009) đánh em T và bảo N1 đem theo dao để khi đánh đem ra sử dụng, N1 đồng ý và đem theo 01 cây dao, loại dao bấm, mũi nhọn dài 20cm để vào túi áo khoác. Sau đó, N1 tiếp tục rủ thêm Lý Mộng T1 (sinh ngày 24 tháng 12 năm 2009), Nguyễn Thị Bích T4 (sinh ngày 30 tháng 9 năm 2010), Phùng Hữu P (sinh ngày 19 tháng 12 năm 2011), Nguyễn Thị Hoàng O (sinh ngày 16 tháng 8 năm 2013) và Nguyễn Như T3 (sinh ngày 16 tháng 11 năm 2010) cùng đi đánh em T, thì N1, P, O, T1, T4, T3 đồng ý.
Khoảng 12 giờ ngày 07 tháng 02 năm 2025, nhóm của Như gồm: P, O, N1, T1, T4, T3 tập trung trước nhà Như, số 07, khu dân cư Đ, khóm A, phường M, tỉnh An Giang, rồi N điều khiển xe môtô (không rõ biển số) chở N1 và T4; T1 điều khiển xe môtô (không rõ biển số) của T3 chở T3; P chở O bằng xe đạp đi đến Trường Trung học cơ sở M, tổ C, khóm T, phường M, tỉnh An Giang nơi em T đang học để tìm em T. Khi đến tiệm game gần trường, cả nhóm gặp em T và em Tăng Ngọc Như Ý (sinh năm 2012), thì dừng lại nói chuyện với em T. Như bảo em T và em Ý lên xe môtô do N điều khiển đến cầu Đ, tổ I, khóm T, phường M, tỉnh An Giang để đánh nhau thì em T đồng ý. Như điều khiển xe môtô chở N1, em T và em Ý; T1 điều khiển xe mô tô chở T3, T4; P chở O đến giữa cầu Đ, tất cả dừng xe trên cầu. Tại đây, N1 đưa dao cho T1 giữ, T1 để vào túi quần. Lúc này, N bảo N1 đánh em T, N1 liền đánh nhau bằng tay với em T; T1 cầm điện thoại quay video, thấy N1 đánh không lại em T, thì N xông vào dùng tay, chân cùng N1 đánh, đạp em T làm em T té xuống mặt cầu. Sau đó, N, N1 dùng tay tiếp tục đánh em T và dùng chân đá vào người em T. T1 đưa điện thoại cho T3 quay video rồi T1 và P xông vào dùng tay đánh và dùng chân đạp, đá vào người em T; còn O và T4 đứng xem không tham gia đánh em T. Bị nhiều người vây đánh, em T năn nỉ xin tha và em Ý can ngăn. Trong lúc em T đứng xin lỗi, T1 lấy con dao chưa mở nắp cầm trên tay, N liền lấy cây dao đưa ra thách em T lấy dao đâm Như, em T không đồng ý, ngay lúc này N1 lấy cây dao trên tay Như, cầm trên tay phải đâm vào phần đùi chân trái em T 01 cái, thì T1 lấy dao đưa lại Như, rồi cả nhóm điều khiển xe về, trên đường N ném con dao xuống sông. Riêng em T và em Ý tự đi bộ về rồi em T được gia đình đưa đi điều trị tại Bệnh viện S, đến ngày 11 tháng 02 năm 2025 xuất viện.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, em T cùng đại diện theo pháp luật chị Tăng Thị Huệ K1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Như.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 110/25/KLTTCT-TTPY ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Phạm Huỳnh Thanh T, sinh năm 2011:
Các kết quả chính: Chấn thương vùng đầu mặt, gây: Sưng bầm mắt phải hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ 00%. Do vật tày gây nên; Bầm môi dưới bên trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ 00%. Do vật tày gây nên; Chấn động não, đau đầu, chóng mặt. Tỷ lệ 05%. Do vật tày gây nên; Sây sát da khuỷu tay phải để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (0.6 x 0.2) cm. Tỷ lệ là 01%. Do vật tày gây nên. Sây sát da khuỷu tay trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên. Sẹo mặt ngoài 1/3 trên đùi trái, kích thước (2.8 x 0.2) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc. Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc nhọn gây nên.
Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 07% (bút lục số 60 đến 61).
* Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 45/KLGĐĐT-TTPYCT ngày 23 tháng 4 năm 2025 của Trung tâm pháp y thành phố C: Nguyễn Thị Trúc N có độ tuổi từ 16 năm 03 tháng đến 16 năm 09 tháng (tại thời điểm giám định ngày 21 tháng 4 năm 2025) (bút lục số 81 đến 82)
* Kết luận số 783/KL-KTHS ngày 27 tháng 7 năm 2025 của Phòng K2 Công an tỉnh A: Trích xuất 110 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (kí hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo. Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục gồm 30 trang A4 (bút lục 94 đến 122).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bà Tăng Thị Huệ K1 (đại diện theo pháp luật của bị hại T): Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và bồi thường 3.600.000 đồng.
Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H1 Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSKV9 ngày21/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Trúc N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 288, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc em Lê Thị Tuyết N1 cùng ông Lê Hồng N2 và bà Nguyễn Thị Thùy T5 (cha mẹ của N1) liên đới bồi thường số tiền 3.600.000 đồng cho bị hại Phạm Huỳnh Thanh T do đại diện hợp pháp của T đại diện nhận.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên về quan điểm truy tố, không tranh luận về tội danh. Tuy nhiên, về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trình độ học vấn thấp, thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; sau khi phạm tội được tại ngoại thì bị cáo chấp hành tốt pháp luật của nhà nước; bị hại cũng có một phần lỗi nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã đề nghị.
Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu em Lê Thị Tuyết N1 cùng ông Lê Hồng N2, bà Nguyễn Thị Thùy T5 (ba mẹ của N1) liên đới bồi thường chi phí điều trị với số tiền 3.600.000 đồng và yêu cầu xử lý hành vi của bị cáo theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 110/25/KLTTCT-TTPYngày 19 tháng 3 năm 2025 của Trung tâm pháp y tỉnh A và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07 tháng 02 năm 2025, Nguyễn Thị Trúc N cùng Lê Thị Tuyết N1 (sinh ngày 05 tháng 12 năm 2009), Lý Mộng T1 (sinh ngày 24 tháng 12 năm 2010), Phùng Hữu P (sinh ngày 19 tháng 12 năm 2011) và Nguyễn Như T3 (sinh năm 16 tháng 11 năm 2010) dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm và dùng tay đánh, chân đạp vào người người em Phạm Huỳnh Thanh T (sinh ngày 15 tháng 7 năm 2011), gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 07% và em T cùng đại diện theo pháp luật yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi:
Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý của xã hội, được pháp luật bảo vệ và mọi người tôn trọng. Mọi hành vi trái pháp luật nhằm xâm hại đến tính mạng, sức khỏe cũng như danh dự, nhân phẩm của người khác được xem là hành vi nguy hiểm cho xã hội, sẽ bị xử lý kịp thời và nghiêm minh.
Bị cáo tại thời điểm phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nhưng có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân. Mặc dù bị cáo không phải là người trực tiếp dùng hung khí gây thương tích cho bị hại nhưng bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có hành vi dùng tay, chân đánh bị hại với tổng tỷ lệ thương tích là 7%. Xét thấy, chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường, lẽ ra, bị cáo là người lớn tuổi nhất trong nhóm phải khuyên can, giáo dục, nhắc nhở các em nhỏ tuổi hơn mình nhưng trái lại, bị cáo lại chủ động lập nhóm trên mạng xã hội để lôi kéo, rủ rê đi đánh nhau, điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật và trực tiếp xâm hại đến quyền nhân thân, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội nhất là tình trạng thanh thiếu niên sử dụng hung khí giải quyết mâu thuẫn ngày càng gia tăng như hiện nay. Tuy nhiên, bị hại cũng có một phần lỗi, do đó, đề nghị của Kiểm sát viên tại phần luận tội là có căn cứ và được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa thành niên nên có phần hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị hại cũng có một phần lỗi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo N tại thời điểm phạm tội là người dưới 18 tuổi, nên còn được hưởng chính sách pháp luật đối với người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội tại Chương XII Bộ luật Hình sự và Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, vì vậy không cần thiết cách ly người phạm tội khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình quản lý để giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Tăng Thị Huệ K1 (người đại diện theo pháp luật của bị hại T) yêu cầu em N1 và người đại diện hợp pháp của em N1 cùng có trách nhiệm liên đới bồi thường chi phí điều trị với số tiền 3.600.000 đồng.
Tại phiên toà, em Lê Thị Tuyết N1 cùng đại diện hợp pháp ông Lê Hồng N2 tự nguyện bồi thường 3.600.000 đồng cho bị hại và không yêu cầu bị cáo N trả lại. Xét thấy, sự tự nguyện của em N1 và đại diện hợp pháp của N1 là phù hợp quy định pháp luật, có lợi cho bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, buộc em Lê Thị Tuyết N1 cùng người đại diện hợp pháp là ông Lê Hồng N2, bà Nguyễn Thị Thùy T5 (cha mẹ của N1) liên đới bồi thường số tiền 3.600.000 đồng cho bị hại Phạm Huỳnh Thanh T do đại diện hợp pháp của T đại diện nhận.
Đối với, Lê Thị Tuyết N1 (sinh ngày 05 tháng 12 năm 2009), Lý Mộng T1, (sinh ngày 24 tháng 12 năm 2010), Phùng Hữu P (sinh ngày 19 tháng 12 năm 2011), Nguyễn Như T3 (sinh năm 16 tháng 11 năm 2010), nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đối với, Nguyễn Thị Bích T4 (sinh ngày 30 tháng 9 năm 2010), Nguyễn Thị Hoàng O (sinh ngày 16 tháng 8 năm 2013), được N1 rủ đi đánh em T, nhưng khi N, N1, T1, P, T3 đánh em T thì T4, O không tham gia đánh. Mặt khác, T4, O chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Tuyết N1 cùng người đại diện hợp pháp là ông Lê Hồng N2, bà Nguyễn Thị Thùy T5 (cha mẹ của N1) liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Trúc N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024;
[1] Xử phạt: Nguyễn Thị Trúc N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (19/11/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Trúc N cho Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Trúc N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Thị Trúc N. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 288, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc em Lê Thị Tuyết N1 cùng ông Lê Hồng N2, bà Nguyễn Thị Thùy T5 (cha mẹ của N1) liên đới bồi thường số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) cho bị hại Phạm Huỳnh Thanh T do đại diện hợp pháp của T đại diện nhận.
[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Trúc N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc em Lê Thị Tuyết N1 cùng ông Lê Hồng N2, bà Nguyễn Thị Thùy T5 (cha mẹ của N1) liên đới chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo; bị hại, đại diện hợp pháp bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 63/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị trúc như
