|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 9 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Thành và ông Nguyễn Văn Đời
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tuấn Thanh Tứ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn Kh - Sinh ngày 05 tháng 02 năm 2000 tại Đắk Lắk. Nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam (nay là xã T, thành phố Đà Nẵng). Chỗ ở: K52/12 L, phường A, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lái xe grap; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (sinh năm 1969) và bà Nguyễn Thị Thanh V (sinh năm 1971);
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, sau đó tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngũ Hành Sơn - Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Đà Nẵng từ ngày 24.4.2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Bảo Tr - Sinh ngày 24 tháng 5 năm 2000 tại tỉnh Quảng Trị. Nơi cư trú: Khu phố 1, phường 5, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị). Chỗ ở: 112/19 T, phường C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T (sinh năm 1963) và bà Nguyễn Thị Tân H (sinh năm 1975);
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, sau đó tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngũ Hành Sơn - Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Đà Nẵng từ ngày 24.4.2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Trịnh Xuân C - Sinh ngày 02 tháng 3 năm 1996 tại Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở: 26 A, phường A, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán quần áo; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Xuân Th (sinh năm 1972) và bà Đậu Thị H (sinh năm 1974).
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Nhân thân: Ngày 06.5.2020, bị Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác (QĐ số 128).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, sau đó tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngũ Hành Sơn - Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Đà Nẵng từ ngày 24.4.2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 2006. Địa chỉ: Đội 10, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là Ninh Bình). Nơi ở: Phòng 501, số 107 H, phường A, thành phố Đà Nẵng ( vắng mặt).
- - Ông Phan Công D, sinh năm 1995. Địa chỉ: 29 M, phường N, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
- - Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1991. Địa chỉ: 226/23 P, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
- - Bà Nguyễn Linh G, sinh năm 1988. Địa chỉ: 220 T, phường N, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
- - Bà Nguyễn Minh P, sinh năm 1968. Địa chỉ: K, phường A, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
- - Bà Đặng Thị T, sinh năm 1972. Địa chỉ: K112/19 T, phường C, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Xuân H sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn S, xã Q, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
Người chứng kiến: Ông Lê Văn Kh - Sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ 13, phường A, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23.4.2025, Phòng CSĐTTP về ma tuý Công an thành phố Đà Nẵng phối hợp với Công an phường Phước Mỹ tiến hành kiểm tra Phòng 501, căn hộ số 107 đường H, phường P, quận Sơn Trà (nay là phường A), thành phố Đà Nẵng. Tại thời điểm này trong phòng có 03 người gồm: Nguyễn Văn Kh, Trịnh Xuân C và Nguyễn Thị H. Kiểm tra trong phòng phát hiện trên bàn có 01 gói ni lông chứa thảo mộc khô, 01 gói ni lông chứa chất bột và 01 gói ma tuý chứa chất tinh thể rắn màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng gấp lại chứa chất bột màu trắng và 01 thẻ nhựa bám dính chất bột màu trắng. Tiếp tục kiểm tra trên giường có 01 loa màu xanh, Kh khai nhận gói ni lông chứa thảo mộc khô là ma tuý cần sa Kh mua để bán lại, 02 gói ni lông chứa chất tinh thể rắn màu trắng và chất bột màu trắng là ma tuý Ketamine và nước vui C nhờ Kh mua về để sử dụng cho bản thân, các vật dụng còn lại là dụng cụ sử dụng ma tuý của C.
Tang vật tạm giữ của Trịnh Xuân C gồm:
- - 01 gói ni lông kích thước (09x06)cm, màu đỏ có chữ “Ferrrari", bên trong chứa chất bột (được niêm phong ký hiệu là A);
- - 01 gói ni lông kích thước (04x03)cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (được niêm phong ký hiệu là B);
- - 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng gấp lại bên trong bám dính chất bột màu trắng và 01 thẻ nhựa màu cam có chữ Hermes bám dính chất bột màu trắng (được niêm phong ký hiệu là C);
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 ProMax màu xám, số Imei: 354650919654529 và 354650919266951, gắn sim số: 0969.965.596.; 01 loa JBL màu xanh;
Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn Kh gồm:
- - 01 gói ni lông màu đen, bên trong có 01 gói ni lông kích thước (15x21)cm, chứa thảo mộc khô (được niêm phong ký hiệu là D);
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax màu trắng, số Imei: 355909997026920, không gắn sim.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSMax màu vàng, số Imei: 353105100523984,
gắn sim số: 0916.255.146 và số 0842.000.989.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Kh tại phòng ngoài cùng tầng 2, số nhà 52/12 đường L, phường P, quận S (nay là phường A), thành phố Đà Nẵng tiếp tục thu giữ (dưới gầm giường) 01 hộp ghi chữ T=HC², bên trong có: 01 hộp hình trụ bên trong chứa xác thảo mộc khô (hộp ghi chữ T=HC; đường kính 06cm, cao 9,5cm (được niêm phong ký hiệu là K); 01 khay bằng kim loại ghi chữ T=HC²; 01 cân điện tử tiểu ly ghi chữ T=HC²; 01 cối xay bằng kim loại ghi chữ T=HC²; 01 dụng cụ quấn điếu thuốc lá màu đen bằng nhựa và 02 tép giấy quấn thuốc có chữa Raw.
Khoảng 01 giờ ngày 24/4/2025, tại Công an thành phố Đà Nẵng có một nam thanh niên tên Hoàng Bảo Tr đến trình diện và đầu thú. Tr khai nhận gói ma tuý bên trong chứa thảo mộc khô thu giữ được của Kh tại Phòng 501, căn hộ số 107 đường H, phường P, quận S (nay là phường A), thành phố Đà Nẵng vào ngày 23.4.2025 là của Tr đem đến giao bán cho Kh theo yêu cầu của một người tên “Tuấn” để lấy tiền công.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Bảo Tr tại địa chỉ 112/19 đường Thinh, phường H, quận C (nay là phường C), thành phố Đà Nẵng thu giữ:
- - Tại phòng đầu tiên nhìn từ cửa chính vào, vị trí góc cửa bên phải phát hiện 01 hũ kim loại có nắp mở hai đầu;
- - Tại góc bếp ở sau nhà phát hiện: 01 hộp nhựa bên trong chứa thảo mộc khô (được niêm phong ký hiệu là T); 01 cân điện tử; 10 ống nhựa có nắp đậy màu trắng chưa qua sử dụng và 02 tập giấy quấn thuốc lá có chữ Raw màu đỏ.
Ngoài ra, Nguyễn Bảo Tr còn giao nộp: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, số Imei: 355782153715275, gắn sim số: 0823.240.040; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter mang BKS: 37L1-280.24 và 100.000 đồng (tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam). Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể xác định Hoàng Bảo Tr, Trịnh Xuân C dương tính với chất ma túy; Nguyễn Văn Kh, Nguyễn Thị H âm tính với chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 363/KL-KTHS ngày 19.5.2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, kết luận: Mẫu A (chất bột màu cam và trắng trộn lẫn nhau) là ma túy loại Methamphetamine, Ketamine, Nimetazepam, khối lượng là 2,147 gam. Mẫu B (tinh thể rắn màu trắng) là ma túy loại Ketamine, khối lượng là 0,928 gam. Mẫu C (chất bột màu trắng trong tờ tiền 2000 đồng và chất bột màu trắng bám dính trên thẻ nhựa) là ma túy loại Ketamine, khối lượng mẫu trong tờ tiền là 0,398 gam, không xác định được khối lượng mẫu bám dính trên thẻ nhựa. Mẫu D, T, K (thảo mộc khô, xác thảo mộc khô) là ma túy loại Cần sa, khối lượng mẫu D là 25,906 gam, khối lượng mẫu T là 1,078 gam và khối lượng mẫu K là 5,859 gam.
Tại Kết luận giám định số: 907/KL-KTHS ngày 10.6.2025 của Phòng kỹ thuật hình
sự Công an thành phố Đà Nẵng, kết luận: Hàm lượng từng chất ma túy trong Mẫu A (khối lượng là 2,147 gam) gồm: Ketamine là 6,6%; Nimetazepam là 1,2%; Methamphetamine ở dạng vết (hàm lượng tháp dưới giới hạn định lượng của phương pháp) nên không xác định được hàm lượng.
Qua điều tra xác định:
Khoảng đầu tháng 3.2025, Nguyễn Văn Kh nảy sinh ý định mua ma tuý về bán kiếm lời nên lên mạng xã hội, thông qua các hội nhóm trên ứng dụng Telegram, Kh hỏi mua ma tuý cần sa của một tài khoản có tên Snoop (không rõ nhân thân lai lịch). Kh mua cần sa của Snoop 02 lần, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng giữa tháng 3.2025, Kh liên hệ Snoop mua 2.000.000 đồng ma tuý cần sa. Snoop giao ma tuý cho Kh thông qua một người giao hàng Grab (không rõ nhân thân lai lịch, Khang không quen biết người này). Snoop nói Kh trả tiền mua ma tuý bằng cách chuyển tiền điện tử. Kh đã bán được 01 điếu với số tiền 100.000 đồng cho 01 khách đi xe grab người nước ngoài (không rõ lai lịch). Còn lại 5,859 gam ma tuý cần sa, Kh cất ở phòng trọ của mình để khi nào có khách hỏi mua thì bán nhưng chưa có ai mua.
Lần thứ hai: Vào khoảng 18 giờ ngày 23.4.2025, Kh đến Phòng 501, căn hộ số 107 đường H, phường P, quận S (nay là phường A), thành phố Đà Nẵng của Nguyễn Thị H để chơi với Trịnh Xuân C (C là bạn trai của H, C đến phòng 501 vào khoảng 14 giờ cùng ngày). Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, có một người sử dụng tài khoản Zalo tên Rym liên hệ với Kh để hỏi mua 30 gam ma tuý cần sa thì Khđồng ý bán. Sau đó, Kh tiếp tục liên hệ với Snoop hỏi mua 30 gam ma tuý cần sa với số tiền 4.000.000 đồng thì Snoop đồng ý và hẹn giao đến căn hộ số 107 đường Hà Bổng. Snoop nói Khang chuyển tiền mua ma tuý bằng cách chuyển tiền điện tử nên Kh chuyển 152USDT thông qua sàn giao dịch OKX, tương đương 4.000.000 đồng cho Snoop (chưa xác định được tài khoản chuyển tiền điện tử). Lúc này, có một người tên T (không rõ nhân thân lai lịch), dùng tài khoản Telegram tên “Glocal” nhắn tin cho Hoàng Bảo Tr nói Tr đi bán 30 gam ma tuý cần sa cho Kh. Tuấn nhắn số điện thoại 0916.255.146 của Kh cho Tr nói Tr đem cần sa đến giao tại 107 đường H. Tuy nhiên, Tr nói với T không đủ khối lượng cần sa khách yêu cầu, với lý do: Trước đây Tr có lần mua cần sa của T để sử dụng nên quen biết T, sau đó T nói Tr đi bán cần sa cho T, mỗi lần đi bán T sẽ trả công cho Tr từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng thì Tr đồng ý. Vào khoảng giữa tháng 4.2025, T đưa cho Tr 30 gam cần sa và nói khi nào có khách cần mua thì đem đi bán nhưng Tr đã lấy ra một ít sử dụng cho bản thân, khi nghe T nói đem cần sa đi bán cho khách thì Tr tiếp tục lấy ra khoảng 01 gam cần sa cất ở nhà để Tr sử dụng và nói với Tuấn chỉ còn lại 26,3 gam. Một lúc sau, T sử dụng tài khoản Telegram tên “Hồ Văn M” gọi cho Tr nói mang toàn bộ số cần sa đó qua cho T tại kiệt 25 đường H, thành phố Đà Nẵng. Tiếp đó Tr đến trước kiệt 25 đường H gọi cho T (T không biết cụ thể địa chỉ của T).
T đi bộ ra cầm gói cần sa của Tr đem đi, một lúc sau T quay lại đầu kiệt đưa gói cần sa và 100.000 đồng (tiền công) cho Tr để Tr đi giao cho Kh. T nói Tr xoá hết tin nhắn đi nên Tr xoá hết mọi liên hệ với tài khoản “Hồ Văn M” rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter mang BKS: 37L1-280.24 đi giao cần sa cho Kh.
Khoảng 20 giờ 05 phút cùng ngày, trong lúc Kh chờ Snoop (T) mang cần sa đến thì C nhắn tin qua Zalo nhờ Kh mua cho mình 2,5 gam ma tuý Ketamine và nói trực tiếp với Kh nhờ mua thêm 01 gói nước vui để sử dụng cho nhu cầu cá nhân thì Kh đồng ý. Lúc này, Kh gọi Zalo cho Rym để hỏi mua 2,5 gam ma tuý Ketamine và 01 gói nước vui thì Rym đồng ý bán với số tiền 4.500.000 đồng, hẹn đến ngã ba đường H và H, phường S, thành phố Đà Nẵng để thực hiện giao dịch.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Tr đến nơi thì thấy Kh đứng đợi sẵn dưới căn hộ, Tr đưa gói ma tuý cần sa cho Kh rồi Kh đem lên phòng để trên bàn, C thấy nhưng không biết có ma tuý bên trong. Kh dự định bán cho Rym với số tiền 4.500.000 đồng (Kh sẽ hưởng lợi 500.000 đồng).
Sau khi cầm gói ma tuý cần sa lên Phòng 501 thì Kh đi bộ đến điểm hẹn để mua ma tuý của Rym (do căn hộ số 107 H gần địa điểm giao dịch với Rym nên Kh đi bộ đến). Theo hướng dẫn của Rym, Kh đến nhặt gói ma tuý ở một gốc cây trên đường H. Sau khi mua được ma tuý, Kh đem gói ma tuý lên phòng đưa cho C và nói tiền mua ma tuý là 5.000.000 đồng (Kh hưởng lợi 500.000 đồng, số tiền mua ma tuý Kh chưa trả cho Rym vì Rym còn đặt mua ma tuý cần sa của Kh với số tiền 4.500.000 đồng). Lúc này, C lấy gói ma tuý nước vui để trên bàn, lấy một ít ma tuý Ketamine ra đổ lên tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, lấy thẻ nhựa màu cam ra cà mịn rồi hít một ít ma tuý Ketamine (tiền mua ma tuý C chưa trả cho Kh).
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ các tang vật như đã nêu trên.
Về phần Tr, sau khi đem cần sa giao cho Kh thì đi đến quán nước gần căn hộ số 107 đường H, thành phố Đà Nẵng để uống nước. Khoảng 15 phút sau, Tr thấy nhiều người mang trang phục Công an vào bên trong nhà số 107 đường H, nghĩ là người vừa mua ma tuý của Tr bị bắt nên Tr đến trụ sở Công an thành phố Đà Nẵng đầu thú vào lúc 01 giờ ngày 24.4.2025. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Tr thu giữ được 1,078 gam ma tuý cần sa Tr cất giấu để sử dụng cho nhu cầu bản thân. Kiểm tra điện thoại của C, Kh, Tr ghi nhận các tin nhắn, cuộc gọi liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma tuý.
Đối với Nguyễn Thị H, khoảng 18 giờ ngày 23.4.2025, C và Kh ở phòng của H chơi thì H mệt nên đi ngủ. Trong suốt quá trình C, Kh trao đổi mua bán trái phép chất ma tuý và việc C sử dụng trái phép chất ma tuý trong phòng thì H không biết. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi lực lượng Công an vào kiểm tra thì H mới dậy.
Tại Văn bản số: 3031/UBCK-PTTT ngày 01.7.2025 của Ủy ban Chứng khoán nhà nước xác định: Ủy ban Chứng khoán nhà nước không cấp phép, không quản lý các sàn giao dịch như OKX và không có thông tin liên quan đến hoạt động của sàn này.
Tại Bản kết luận điều tra số: 496/BKL-CSMT ngày 20.8.2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đề nghị truy tố Nguyễn Văn Kh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hoàng Bảo Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Trịnh Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản cáo trạng số: 20/CT-VKS-KV2 ngày 03.9.2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng truy tố Nguyễn Văn Kh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hoàng Bảo Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Trịnh Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C như Cáo trạng số: 20/CT-VKS-KV2 ngày 03.9.2025 và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù và xử phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- - Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Bảo Tr từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và xử phạt bổ sung số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân C từ 01 năm đến 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng, đề nghị:
- - Tịch thu và tiêu hủy đối với các bì niêm phong ký hiệu B, D, K, T (chứa mẫu hoàn trả sau giám định); 01 hộp ghi chữ T=HC² ; 01 hộp hình trụ có chữ T=HC² (đường kính 06cm, cao 9,5cm); 01 khay bằng kim loại ghi chữ T=HC² ; 01 cân điện tử tiểu ly ghi chữ T=HC²; 01 cối xoay ghi chữ T=HC² ; 01 dụng cụ quấn điếu thuốc lá bằng nhựa màu đen; 02 tép giấy quấn thuốc có chữ Raw; 01 hũ kim loại có nắp hở hai đầu; 10 ống nhựa có nắp đậy màu trắng chưa qua sử dụng; 01 tập giấy quấn thuốc lá có chữ Raw màu đỏ; 01 cân điện tử và 01 thẻ nhựa màu cam và các sim của những điện thoại đã thu giữ.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, màu xám, số Imei: 354650919654529, gắn sim số: 0969.965.596; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax, số Imei: 355909997026920, không gắn sim ;01 điện thoại di động hiệu Iphone SXMax, màu vàng, số Imei: 353105100523984, gắn sim số: 0916.255.146 và 0842.000.989; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, số Imei: 355782153715275, gắn sim số: 0823.240.040; 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter, BKS: 37L1-280.24, số khung: RLCJ5VT204Y092802, số máy: 5VT292802; số tiền 100.000 đồng và 01 bì niêm phong ký hiệu C (chứa mẫu hoàn trả sau giám định) là tờ tiền mệnh giá 2000 đồng.
- - Trả lại cho bị cáo Trịnh Xuân Công 01 loa JUB màu xanh. Tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Lời nói sau cùng:
Các bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C đều nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
[2] Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy hồ sơ vụ án đã thu thập đầy đủ lời khai cũng như yêu cầu của những người này và việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về hành vi phạm tội:
[3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn Kh.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị cáo Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C; phù hợp với kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Trong ngày 23.5.2025, Nguyễn Văn Kh đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong đó: Bán 1,326 gam Ketamine và 2,147 gam Ketamine, Nimetazepam cho Trịnh Xuân C với giá 5.000.000 đồng (chưa nhận tiền); đã mua của “T” 25,906 gam cần sa với số tiền 4.000.000 đồng để bán lại cho “Rym” nhưng chưa thực hiện được. Ngoài ra, Nguyễn Văn Kh còn tàng trữ 5,859 gam cần sa tại nơi ở nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Văn Kh mua bán trái phép là 1,326 gam ma túy loại Ketamine; 2,147 gam ma túy loại Ketamine, Nimetazepam và 31,765 gam ma túy loại cần sa. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Kh đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 20/CT-VKS-KV2 ngày 03.9.2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3.2] Đối với bị cáo Hoàng Bảo Tr:
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Bảo Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Kh; phù hợp với kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 23.5.2025, Hoàng Bảo Tr đã có hành vi giúp đối tượng tên “T” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mang đến bán cho Nguyễn Văn Kh 25,906 gam ma túy loại cần sa tại khu vực ngã ba đường H - H, phường S, thành phố Đà Nẵng để nhận số tiền công là 100.000 đồng. Hành vi của bị cáo Hoàng Bảo Tr đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 20/CT-VKS-KV2 ngày 03.9.2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3.3] Đối với bị cáo Trịnh Xuân C:
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Xuân C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Kh; phù hợp với kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào
ngày 23.5.2025, tại Phòng 501 - Căn hộ số 107 đường H, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng (nay là phường A, thành phố Đà Nẵng). Trịnh Xuân C đã có hành vi cất giấu 1,468 gam ma túy loại Ketamine và 0,026 gam ma túy loại Nimetazepam nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của Trịnh Xuân C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 20/CT-VKS-KV2 ngày 03.9.2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hậu quả của hành vi phạm tội: Các bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Khung hình phạt mà mỗi bị cáo bị truy tố, xét xử có mức án đến từ 01 năm đến 05 năm tù; từ 02 năm đến 07 năm tù và từ 07 năm đến 15 năm tù nên hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo.
[5] Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Văn Kh và Hoàng Bảo Tr có nhân thân tốt thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trịnh Xuân C có nhân thân xấu thể hiện ở việc bị Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác tại Quyết định số: 128 ngày 06.5.2020.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn Kh có ông ngoại là người có công cách mạng; bị cáo Hoàng Bảo Tr có ông nội là Liệt sĩ và đã tự giác đến Cơ quan Công an khai báo hành vi của mình khi biết vụ việc bị phát hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho các bị cáo này.
[8] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo nói riêng đồng thời cũng
để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung. Mức hình phạt áp dụng đối với mỗi bị cáo phải bằng và trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với tội danh mà các bị cáo bị truy tố, xét xử.
[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và 251 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định từ một đến năm năm, phạt quản chế, cấm cư trú từ một đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét tính chất hậu quả của hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trịnh Xuân C và quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn Kh. Đối với bị cáo Hoàng Bảo Tr là sinh viên đi học, ở trọ và chạy thêm grap để sinh hoạt nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Đối với các bì niêm phong ký hiệu B, D, K, T (chứa mẫu hoàn trả sau giám định); 01 hộp ghi chữ T=HC² ; 01 hộp hình trụ có chữ T=HC² (đường kính 06cm, cao 9,5cm); 01 khay bằng kim loại ghi chữ T=HC² ; 01 cân điện tử tiểu ly ghi chữ T=HC²; 01 cối xoay ghi chữ T=HC² ; 01 dụng cụ quấn điếu thuốc lá bằng nhựa màu đen; 02 tép giấy quấn thuốc có chữ Raw; 01 hũ kim loại có nắp hở hai đầu; 10 ống nhựa có nắp đậy màu trắng chưa qua sử dụng; 01 tập giấy quấn thuốc lá có chữ Raw màu đỏ; 01 cân điện tử và 01 thẻ nhựa màu cam. Đây là vật cấm tàng trữ lưu hành và vật sử dụng vào việc phạm tội, có giá trị không đáng kể nên tịch thu và tiêu hủy.
- - Đối với bì niêm phong ký hiệu C (chứa mẫu hoàn trả sau giám định) là tờ tiền mệnh giá 2000 đồng. Đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội có giá trị nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với mẫu niêm phong ký hiệu A đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không đề cập xử lý.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, màu xám, số Imei: 354650919654529, gắn sim số: 0969.965.596 (thu giữ của Trịnh Xuân Công); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax, số Imei: 355909997026920, không gắn sim (thu giữ của Nguyễn Văn Khang); 01 điện thoại di động hiệu Iphone SXMax, màu vàng, số Imei: 353105100523984, gắn sim số: 0916.255.146 và 0842.000.989 (thu giữ của Nguyễn Văn Kh); 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, số Imei: 355782153715275, gắn sim số: 0823.240.040 và số tiền 100.000 đồng (thu giữ của Hoàng Bảo Tr). Đây là tài sản dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước (Riêng các sim số: 0969.965.956, 0916.255.146, 0842.000.989 và 0823.240.040 được tịch thu và tiêu hủy).
- - Đối với 01 loa JBL màu xanh, tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Trịnh Xuân C. Tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
- - Đối với xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter, BKS: 37L1-280.24, số khung: RLCJ5VT204Y092802, số máy: 5VT292802. Chiếc xe này của ông Nguyễn Xuân H đứng tên và đã bán lại cho người khác (không xác định được nhân thân lai lịch) và Hoàng Bảo Tr tiếp tục là người mua lại chiếc xe này nhưng giấy tờ mua bán đã bị thất lạc và chưa làm thủ tục đăng ký sở hữu theo quy định. Hiện nay, các bên không tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đã mua bán. Bị cáo Hoàng Bảo Tr đã sử dụng chiếc xe nói trên đi mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[11] Về biện pháp tư pháp: Trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy, Nguyễn Văn Kh chưa nhận được tiền của Trịnh Xuân C và “Rym”, chưa thu lợi được gì nên không đề cập xử lý. Đối với Hoàng Bảo Tr được “T” trả công đi giao ma túy số tiền 100.000 đồng (đã bị tịch thu) và không thu lợi khoản tiền gì khác nên không đề cập xử lý.
[12] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[13] Ngoài ra:
- - Đối với đối tượng tên “Snoop”, “Rym” và “T” (sử dụng tại khoản Telegram tên Glocal và Hồ Văn M) là người mua, bán ma túy cho Nguyễn Văn Kh hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cần tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
- - Bị cáo Trịnh Xuân C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố Đà Nẵng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
- - Bị cáo Hoàng Bảo Tr có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ 1,078 gam ma túy loại cần sa để sử dụng. Số cần sa mà Hoàng Bảo Tr cất giấu không đủ yếu tố cấu thành tội phạm và bị cáo chưa bị xử phạt hành chính, chưa có tiền án, tiền sự về các tội phạm về ma túy nên Công an thành phố Đà Nẵng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
- - Đối với bà Nguyễn Thị V là chủ sở hữu Căn hộ tại số 197 đường H, phường A, thành phố Đà Nẵng; ông Phan Công D là người quản lý căn hộ và bà Nguyễn Thị Huyền là người thuê ở và quản lý phòng 501 tại căn hộ nói trên. Tuy nhiên, những người này không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn Kh và Trịnh Xuân C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng không đề cập xử lý là có căn cứ.
- - Đối với bà Nguyễn Minh Ph là chủ phòng trọ tại địa chỉ K52/10 đường L, phường A, thành phố Đà Nẵng cho Nguyễn Văn Kh thuê ở. Bà Nguyễn Minh Ph không biết Nguyễn Văn Kh cất giấu ma túy tại đây nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng không đề cập xử lý là có căn cứ.
- - Đối với bà Đặng Thị T là chủ phòng trọ tại địa chỉ K112/19 Tr, phường C, thành phố Đà Nẵng cho Hoàng Bảo Tr thuê ở. Bà Đặng Thị T không biết Hoàng Bảo Trung cất giấu ma túy tại đây nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng không đề cập xử lý là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh và Hoàng Bảo Tr phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân C phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 07 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 24.4.2025). Xử phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Bảo Tr 02 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 24.4.2025).
- - Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân C 01 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 24.4.2025).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu và tiêu hủy đối với: Các bì niêm phong ký hiệu B, D, K, T (chứa mẫu hoàn trả sau giám định); 01 hộp ghi chữ T=HC²; 01 hộp hình trụ có chữ T=HC² (đường kính 06cm, cao 9,5cm); 01 khay bằng kim loại ghi chữ T=HC²; 01 cân điện tử tiểu ly ghi chữ T=HC²; 01 cối xoay ghi chữ T=HC²; 01 dụng cụ quấn điếu thuốc lá bằng nhựa màu đen; 02 tép giấy quấn thuốc có chữ Raw; 01 hũ kim loại có nắp hở hai đầu; 10 ống nhựa có nắp đậy màu trắng chưa qua sử dụng; 01 tập giấy quấn thuốc lá có chữ Raw màu đỏ; 01 cân điện tử và 01 thẻ nhựa màu cam
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, màu xám, số Imei: 354650919654529, gắn sim số: 0969.965.596 (thu giữ của Trịnh Xuân C); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax, số Imei: 355909997026920, không gắn sim (thu giữ của Nguyễn Văn Kh); 01 điện thoại di động hiệu Iphone SXMax, màu vàng, số Imei: 353105100523984, gắn sim số: 0916.255.146 và 0842.000.989 (thu giữ của Nguyễn Văn Kh); 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, số Imei: 355782153715275, gắn sim số: 0823.240.040 và 01 xe máy hiệu Yamaha Jupiter, BKS: 37L1-280.24, số khung: RLCJ5VT204Y092802, số máy: 5VT292802 cùng số tiền 100.000 đồng (thu giữ của Hoàng Bảo Tr); 01 bị niêm phong ký hiệu C (chứa mẫu hoàn trả sau giám định) là tờ tiền mệnh giá 2000 đồng (Các sim điện thoại số: 0969.965.956, 0916.255.146, 0842.000.989 và 0823.240.040 được tịch thu và tiêu hủy).
- Trả lại bị cáo Trịnh Xuân C 01 loa JBL màu xanh. Tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ tài sản này để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Các vật chứng nêu trên hiện nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 9 năm 2025.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo Nguyễn Văn Kh, Hoàng Bảo Tr và Trịnh Xuân C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Diện |
Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TP. ĐÀ NẴNG về hình sự
- Số bản án: 63/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Kh và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
