Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29-9-2025

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Phương Nga.
  2. Ông Nguyễn Xuân Nhàn.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2025/TLST–HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: ấp Căn Cứ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Nay là: ấp Căn Cứ, xã Lương Phú, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh B, sinh năm 1980.

Địa chỉ: ấp Căn Cứ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Nay là: ấp Căn Cứ, xã Lương Phú, tỉnh Vĩnh Long.

(Chị Huỳnh Thị Thanh T, anh Huỳnh Thanh B: vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh T trình bày:

Chị và anh B tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 20/12/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh B chơi cờ bạc, không quan tâm, chăm sóc và phụ nuôi con. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn anh B nhưng anh B không thay đổi. Chị và anh B sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ khoảng giữa năm 2024 cho đến nay. Khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, chị đã thông báo cho anh B được biết nhưng anh B không đồng ý đến Tòa án và bỏ mặc quan hệ hôn nhân của anh chị. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với anh B. Chị và anh B có 02 con chung là Huỳnh Chí T1, sinh ngày 20/9/2011 và Huỳnh Hoàng N, sinh ngày 23/12/2019, hiện con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Chị và anh B không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Huỳnh Thanh B vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Huỳnh Thị Thanh T.

Tại phiên tòa:

Chị Huỳnh Thị Thanh T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh Huỳnh Thanh B vắng mặt không có lý do.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long:

Về thủ tục: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị T đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh B không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên anh B chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Về nội dung: Căn cứ quy định tại các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T.

Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn với anh Huỳnh Thanh B.

Về con chung: giao con chung Huỳnh Chí T1, sinh ngày 20/9/2011 và Huỳnh Hoàng N, sinh ngày 23/12/2019 cho chị T trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T trình bày không có, không yêu cầu xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục: Chị Huỳnh Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Huỳnh Thanh B; anh B có địa chỉ tại xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre, nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

Tại phiên toà, nguyên đơn chị T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; riêng bị đơn anh B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thanh T và anh Huỳnh Thanh B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 20/12/2010. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị Thanh T và anh Huỳnh Thanh B là hợp pháp. Chị T yêu cầu được ly hôn với anh B, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị T trình bày trong thời gian chung sống, chị và anh B bất đồng quan điểm, anh B chơi cờ bạc, không quan tâm, chăm sóc và phụ nuôi con nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn anh B nhưng anh B không thay đổi. Hai bên đã sống ly thân từ khoảng giữa năm 2024 cho đến nay. Trong quá trình tố tụng, chị T cho rằng anh B có biết việc chị nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhưng anh B bỏ mặc quan hệ hôn nhân nên chị cương quyết yêu cầu ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt. Đồng thời, anh B mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia các phiên hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa thể hiện việc không có thiện chí hàn gắn. Vì vậy, có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: chị T và anh B có hai con chung là Huỳnh Chí T1, sinh ngày 20/9/2011 và Huỳnh Hoàng N, sinh ngày 23/12/2019, đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, anh B không tranh chấp. Tại Biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, con chung là Huỳnh Chí T1 có nguyện vọng sống với chị T. Do đó, để ổn định về tâm lý, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống của con chung nên việc giao hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết. Do đó, xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

[3] Về tài sản chung: Chị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nợ chung: Chị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị T phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T.

  1. Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn với anh Huỳnh Thanh B.
  2. Về con chung: giao con chung Huỳnh Chí T1, sinh ngày 20/9/2011 và Huỳnh Hoàng N, sinh ngày 23/12/2019 cho chị Huỳnh Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị Huỳnh Thị Thanh T tự nguyện không yêu cầu anh Huỳnh Thanh B cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Huỳnh Thanh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về tài sản chung: chị Huỳnh Thị Thanh T khai không có nên không xem xét giải quyết.
  2. Về nợ chung: chị Huỳnh Thị Thanh T khai không có nên không xem xét giải quyết.
  3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Huỳnh Thị Thanh T phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000843 ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Do đó, án phí sơ thẩm, chị Huỳnh Thị Thanh T đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 7 – Vĩnh Long;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
  • - UBND xã Lương Phú, tỉnh Vĩnh Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Phượng Tường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger