TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 10- ĐỒNG NAI | Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 09-2025
Về việc: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- ĐỒNG NAΙ
-
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thuyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thanh Hương
2. Bà Trương Thị Ngọc Linh
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Khải Hoàn – Thư ký tòa án Tòa án nhân dân khu vực 10- Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10- Đồng Nai xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 69/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 26/8/2025; quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến Đ – Sinh năm 1999
Nơi cư trú: Tổ F, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai).
Bị đơn: Chị Hoàng Thị Ngọc L– Sinh năm 2002
Nơi cư trú: Tổ A, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai).
(Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin vắng, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày và quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn anh Nguyễn Tiến Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tiến Đ và và chị Hoàng Thị Ngọc L sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện sống chung với nhau và đăng ký kết hôn năm 2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai). Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đúng phong tục tập quán của người Việt Nam và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình chung sống, chúng tôi sống hạnh phúc được một thời gian tới tháng 4 năm 2024 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do vợ chồng không hợp
tính nhau, vợ chồng thường xuyên gây lộn, không hiểu nhau, không thống nhất được quan điểm sống. Chúng tôi cũng đã tự hòa giải nhiều lần và tiếp tục sinh sống với nhau kéo dài nhưng cuối cùng không đi đến kết quả, cuộc sống căng thẳng. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị Hoàng Thị Ngọc L.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung. Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng.
Ngoài ra, vì lý do công việc anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt.
* Đối với bị đơn chị Hoàng Thị Ngọc L: Sau khi tòa án thụ lý đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng chị Hoàng Thị Ngọc L không có ý kiến, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Đồng Nai tham gia phiên tòa phát biểu:
Việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Đồng Nai không có ý kiến gì thêm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Nguyễn Tiến Đ được ly hôn với chị Hoàng Thị Ngọc L. Về tài sản chung, nợ chung, con chung: Không có, không xem xét. Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, Điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với chị Hoàng Thị Ngọc L có nơi cư trú tại xã T, tỉnh Đồng Nai thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10- Đồng Nai.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ là đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn chị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ là đúng quy định của pháp luật
[2] Nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Tiến Đ, chị Hoàng Thị Ngọc L là hôn nhân hợp pháp, các đương sự có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai. Anh Đ cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không được và và đã sống ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn nên anh Đ yêu cầu ly hôn với chị L. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 10- Đồng Nai đã hòa giải đoàn tụ cũng như cho thời gian mục đích vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Đ không đồng ý, vợ chồng không ai quan tâm đến ai và đã sống ly thân. Theo biên bản xác minh ngày 16/7/2025 tại xã T thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hay cãi nhau, không ai quan tâm đến ai. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tiến Đ chấm dứt quan hệ hôn nhân với chị Hoàng Thị Ngọc L.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên cũng không xem xét giải quyết trong vụ án.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Tiến Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[4] Tại phiên Tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, các đương sự, Hội đồng xét xử và nội dung vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 01 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Nguyễn Tiến Đ được ly hôn với chị Hoàng Thị Ngọc L.
(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12 ngày 02/02/2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước nay là xã T, tỉnh Đồng Nai).
- Về con chung: Không có nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết trong vụ án.
- Về án phí: Anh Nguyễn Tiến Đ chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005834 ngày 17/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước nay là thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Đình Thuyên |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đình Thuyên |
Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
