Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 628/2025/DS-PT

Ngày: 17-12-2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Đức

Ông Lê Minh Đạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Khanh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Phiên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 400/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 545/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp B, xã M, tỉnh Vĩnh Long

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1964;

2. Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1970;

Cùng địa chỉ: ấp T, xã M, tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Vào khoảng năm 2020, bà có cho ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú vay số tiền 73.000.000 đồng (gốc 70.000.000 đồng và lãi 3.000.000 đồng). Sau đó có trả cho bà được 20.000.000 đồng (gốc là 16.000.000 đồng và lãi là 4.000.000 đồng) còn nợ lại 57.000.000 đồng và vay thêm 5.000.000 đồng, rồi tiếp tục vay tiền thêm của bà nên đến ngày 17/9/2021 âm lịch, ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú viết biên nhận nợ bà số tiền gốc là 70.000.000 đồng. Khi vay tiền thì ông P và bà Ú là người trực tiếp nhận tiền của bà, mục đích vay là nuôi tôm, hứa 05 tháng trả mà đến nay không trả, lãi suất vay là 3%/tháng. Sau khi chốt biên nhận 70.000.000 đồng thì ông, bà có trả lãi cho bà N 1.500.000 đồng và sau đó không tiếp tục đóng lãi nữa, bà đã nhiều lần đến gặp ông P và bà Ú đòi tiền thì cứ hứa hẹn. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú phải trả cho bà số tiền gốc là 70.000.000 đồng và tiền lãi 19.000.000 đồng (tính từ ngày 17/10/2021 đến ngày 17/9/2024 với mức lãi suất là 10%/năm). Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Ú và ông Nguyễn Văn P trình bày:

Ông, bà thừa nhận vào khoảng năm 2019 – 2020, có vay của bà Trần Thị N số tiền là 30.000.000 đồng, mục đích vay là để nuôi tôm, lãi suất vay 1.000.000 đồng/tháng là 100.000 đồng. Khi vay tiền, bà Ú là người trực tiếp nhận tiền của bà N và có đóng lãi cho bà N hơn 01 năm thì ngưng đóng lãi, việc đóng lãi không làm giấy tờ. Sau đó không có khả năng trả lãi cho bà N nên bà N cộng lãi 30.000.000 đồng và gốc 30.000.000 đồng thành 60.000.000 đồng tiền gốc. Khi thu hoạch tôm thì bà Ú có trả cho bà N 50.000.000 đồng, còn nợ bà N 10.000.000 đồng. Bà Ú trực tiếp trả cho bà N, bà N có viết biên nhận cho bà Ú nhưng đã làm thất lạc, lúc trả tiền cho bà N thì không có ai chứng kiến. Sau đó, tiếp tục đóng lãi cho bà N đối với số tiền còn nợ là 10.000.000 đồng được vài tháng thì ngưng và nợ bà N 02 tháng tiền lãi là 2.000.000 đồng nên bà Ú vay tiền của bà N thêm 3.000.000 đồng, cộng gốc và lãi nợ bà N là 15.000.000 đồng. Ông, bà có ký nhận nợ bà N số tiền 15.000.000 đồng vào cuốn sổ nhỏ cho bà N giữ, ông bà không có giữ. Chữ ký và dấu vân tay trong biên nhận nợ do bà N cung cấp không phải là của vợ chồng ông. Đối với kết quả giám định thì ông, bà không đồng ý với kết quả giám định. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ông, bà phải trả số tiền gốc là 70.000.000 đồng và tiền lãi 19.000.000 đồng thì ông, bà không đồng ý. Ông, bà đồng ý trả số tiền gốc là 15.000.000 đồng cho bà N, còn tiền lãi thì ông, bà đồng ý trả số tiền lãi của 15.000.000 đồng gốc cho bà N theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ông bà không có yêu cầu khác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long đã quyết định (tóm tắt):

Buộc ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú phải trả cho bà Trần Thị N số tiền gốc 70.000.000 đồng và tiền lãi 19.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tiền lãi chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm, chi phí giám định, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 25/8/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long theo hướng chỉ buộc ông P và Ú trả bà N số tiền là 15.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

  2. Về nội dung:

    1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N yêu cầu ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú phải trả cho bà số tiền gốc là 70.000.000 đồng và tiền lãi 19.000.000 đồng (tính từ ngày 17/10/2021 đến ngày 17/9/2024 với mức lãi suất là 10%/năm). Theo biên nhận nợ ngày 17/9/2021 âm lịch (bút lục số 36) thể hiện ông P và bà Ú có vay tiền của bà N số tiền là 70.000.000 đồng, có chữ ký của ông P và dấu lăn tay của bà Ú.

      Mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án ông P và bà Ú không thừa nhận chữ ký và vân tay trong biên nhận nêu trên, nhưng theo kết quả giám định đã thể hiện chữ ký của ông P trên biên nhận và các mẫu chữ ký mà ông P cung cấp cho Tòa là cùng một người ký ra, điều này đã chứng minh ông P có ký tên vào biên nhận. Ông P cho rằng không phải ông ký nhưng cũng không có yêu cầu giám định lại.

      Trong quá trình giải quyết vụ án, ông P và bà Ú thừa nhận cả hai có vay tiền của bà N mục đích vay là để nuôi tôm, tuy nhiên số tiền còn nợ không phải là 70.000.000 đồng mà chỉ còn nợ 15.000.000 đồng, mặc dù vậy, ông P bà Ú không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc này ngoài lời trình bày.

    2. Về lãi suất vay: Biên nhận thể hiện ngày 17/9/2021, tuy nhiên, bà N chỉ yêu cầu ông P và bà Ú trả tiền lãi tính từ ngày 17/10/2021 đến ngày 17/9/2024 với mức lãi suất là 10%/năm tương ứng với số tiền lãi là 19.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án ông P và bà Ú đồng ý trả tiền lãi cho bà N theo mức lãi suất mà pháp luật quy định. Do đó, giữa bà N và ông P bà Ú không có sự tranh chấp về lãi suất. Căn cứ theo Điều 468 Bộ luật Dân sự và Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, mức lãi suất mà nguyên đơn bà Trần Thị N yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật.

    3. Bị đơn cho rằng có đóng lãi nhưng nguyên đơn không thừa nhận đã nhận và bị đơn cũng không có chứng cứ chứng minh việc bị đơn đóng lãi.

  3. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét giải quyết và quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

  4. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  5. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị đơn ông P và bà Ú phải chịu án phí dân sự phúc thẩm mỗi người là 300.000 đồng. Tuy nhiên, do ông P là người cao tuổi và có đơn xin miễn nên được miễn nộp án phí; bà Ú phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long.

Cụ thể tuyên:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 147, Điều 161, Điều 244, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Điều 12, 14, 15 và Điều 26 của Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.

    Buộc ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú phải trả cho bà Trần Thị N số tiền gốc 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  2. Về chi phí giám định: Buộc ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Ú phải chịu chi phí giám định với tổng số tiền là 2.430.000 đồng (Hai triệu bốn trăm ba mươi nghìn) để hoàn trả lại cho bà Trần Thị N.

  3. Về án phí:

    1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      • Buộc bà Nguyễn Thị Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.225.000 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
      • Ông Nguyễn Văn P được miễn án phí theo quy định.
      • Bà Trần Thị N không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà N 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011485 ngày 19 tháng 11 năm 2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long) thu.
    2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

      • Ông Nguyễn Văn P được miễn án phí theo quy định.
      • Buộc bà Nguyễn Thị Ú phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà Ú đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 00025287 ngày 27/8/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Ú đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC + VKSNDTC: 02;
  • - TANDTCHCM: 01;
  • - VCT&KSXXPT: 01;
  • - VKSND TVL: 02;
  • - TAND KV13: 01;
  • - THADS TVL: 01;
  • - Phòng THADS KV13: 01;
  • - Đương sự: 03;
  • - Lưu VP: 01;
  • - Phòng KTNV&THA KV13: 01;
  • - Lưu: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 628/2025/DS-PT ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 628/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Nhung - Nguyễn Văn Phủ - Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger