Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 625/2025/DS-PT

Ngày: 17-12-2025

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp

đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hùng

Ông Nguyễn Hữu Lương

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Vân Khanh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:

Bà Trần Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 380/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 541/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: ấp A, xã B, tỉnh Vĩnh Long).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: ấp A, xã B, tỉnh Vĩnh Long); là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 17/02/2025) có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là: ấp A, xã A, tỉnh Vĩnh Long).

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị D

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:

Bà Nguyễn Thị D có mua thịt heo của bà Nguyễn Thị T nhiều lần, bà D mua về bán lại. Ngày 26/02/2022, bà D có ghi biên nhận xác nhận còn nợ tiền thịt heo 39.850.000 đồng, từ khi lập biên nhận bà D không mua thịt heo nữa cũng như không có trả tiền cho bà T. Bên cạnh đó, bà D nhiều lần vay tiền của bà T đến ngày 20/9/2022 bà D viết biên nhận xác nhận còn nợ số tiền 105.570.000 đồng, đây là số tiền tổng kết lại của tiền hụi, tiền thịt heo và tiền vay mà bà D nợ bà T, biên nhận ngày 20/9/2022 là do bà D ghi, tổng số tiền bà D nợ 145.420.000 đồng do bà D hẹn nhiều lần không trả nên bà T khởi kiện. Bà T yêu cầu bà Nguyễn Thị D trả tiền mua thịt heo là 39.850.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 26/2/2022 đến ngày 27/12/2024 mức lãi suất 0.83%/tháng thành tiền là 23.862.691 đồng. Tổng số tiền bà T yêu cầu bà D trả là 180.539.386 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền thịt heo 39.850.000 đồng theo biên nhận ngày 26/2/2022 và tiền lãi 11.256.695 đồng; đồng thời giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ vay 105.570.000 đồng theo biên nhận ngày 20/9/2022 và yêu cầu tính lãi từ ngày khởi kiện là ngày 27/12/2024 đến ngày xét xử là ngày 21/5/2025 với mức lãi suất 0,83%/tháng, số tiền lãi làm tròn là 4.200.000 đồng. Phía bà T cũng không đồng ý với lời trình bày của phía bà D về việc đã trả cho bà T số tiền 34.500.000 đồng vì theo sổ nợ mà phía bị đơn cung cấp, tổng số tiền bị đơn trả cho nguyên đơn vẫn còn thiếu, số tiền thiếu cũng tương đương với số tiền nguyên đơn yêu cầu. Từ khi bị đơn viết biên nhận ngày 20/9/2022 thì bị đơn không có trả tiền cho nguyên đơn. Bị đơn có xin trả dần 1.000.000 đồng/tháng nhưng phía nguyên đơn không đồng và sẽ thỏa thuận lại thời gian trả nợ trong giai đoạn thi hành án.

Tại bản tự khai ngày 17/02/2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bà thừa nhận có thiếu nợ tiền mua thịt heo của bà T (tên gọi khác là L) số tiền 39.850.000 đồng, và bà tự viết biên nhận, tuy nhiên, biên nhận này không đúng số tiền bà còn thiếu vì bà đã trả cho bà T 20.000.000 đồng vào ngày 30 tháng 8 (không nhớ rõ năm) và trả 14.500.000 đồng (không nhớ thời gian trả) nhưng bà T không trừ vào số tiền bà D còn thiếu. Ngoài ra, bà có chơi hụi của bà T vào năm 2021, 01 dây thiếu 13 tháng là 39.000.000 đồng, 01 dây thiếu 21 tháng là 63.000.000 đồng, tổng cộng là 141.850.000 đồng. Số tiền hụi, thịt heo, tiền vay bà T đều có viết vào sổ và giao cho bà D, trong 02 cuốn sổ thể hiện: số tiền hụi 13 tháng là 39.000.000 đồng, 21 tháng là 63.000.000 đồng, tiền thịt heo là 39.850.000 đồng và 1 toa là 3.000.000 đồng, tổng cộng là 144.850.000 đồng, tiếp theo bà D có vay 6.000.000 đồng đã trả dần và còn lại 900.000 đồng, tổng số tiền nợ 145.750.000 đồng, bà D đã trả 40.000.000 đồng và chỉ còn 105.570.000 đồng. Sau đó, bà D có trả cho bà T số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 30 tháng 8 (không nhớ năm) và 14.500.000 đồng (không nhớ thời gian trả) nên bà chỉ còn thiếu bà T số tiền là 71.070.000 đồng. Số tiền 105.570.000 đồng đã bao gồm tiền hụi và lãi của hụi nên bà không đồng ý việc bà T tính thêm lãi vào số tiền này, bà D tham gia dây hụi đã lâu nên không nhớ năm, không nhớ hụi bao nhiêu. Đồng thời, gia đình bà D hiện đang khó khăn nên bà D xin trả dần 1.000.000 đồng/tháng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đã quyết định (tóm tắt):

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Diệu T2 cho nguyên đơn bà T số tiền (tiền hụi, tiền thịt heo, tiền vay) là 105.570.000 đồng, tiền lãi 4.200.000 đồng (tiền lãi tính từ ngày 27/12/2024 đến ngày 21/5/2025, mức lãi suất 0.83%/tháng).
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Diệu T2 số tiền 39.850.000 đồng, tiền lãi 11.256.695 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tiền lãi chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 04/6/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị D kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long theo hướng chỉ yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Diệu T2 số tiền 71.070.000 đồng cho nguyên đơn và chấp nhận cho bị đơn trả dần cho nguyên đơn 1.000.000 đồng/tháng

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bị đơn cho rằng bị đơn chỉ có thêm 8.000.000 đồng nhưng không được nguyên đơn trừ vào nợ; còn 02 khoản tiền trước đó bà đã trả cho nguyên đơn trước ngày chốt nợ và xin trả dần 500.000 đồng/tháng do hoàn cảnh hiện nay khó khăn.

Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chỉ buộc bị đơn trả số tiền 71.070.000 đồng vì bị đơn đã trả trước 34.500.000 đồng nhưng nguyên đơn không thừa nhận; bị đơn cũng không bổ sung tài liệu chứng minh nên nội dung kháng cáo này không có căn cứ để chấp nhận. Đối với nội dung kháng cáo xin trả dần của bị đơn không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị D, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm 53/2025/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị D, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị D kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Diệu T2 số tiền 105.570.000 đồng theo biên nhận ngày 20/9/2022 và yêu cầu tính lãi từ ngày khởi kiện là ngày 27/12/2024 đến ngày xét xử là ngày 21/5/2025 với mức lãi suất 0,83%/tháng, số tiền lãi làm tròn là 4.200.000 đồng. Bị đơn bà D thừa nhận có thiếu nợ tiền mua thịt heo của bà T (tên gọi khác là L) số tiền 39.850.000 đồng, và bà tự viết biên nhận. Ngoài ra, bà cũng thừa nhận có nợ bà T số tiền 105.570.000 đồng, bao gồm tiền thịt, tiền hụi, lãi hụi và tiền vay. Sau đó, bà đã trả cho bà T số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 30 tháng 8 (không nhớ năm) và 14.500.000 đồng (không nhớ thời gian trả) nên bà chỉ còn thiếu bà T số tiền là 71.070.000 đồng. Xét những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có 02 quyển sổ do bị đơn bà D cung cấp, trong đó thể hiện “Tổng cộng D thiếu Lùn Một trăm lẻ năm triệu năm trăm bảy chục ngàn”. Mặc dù dòng chữ này không thể hiện ngày tháng năm nhưng bà D đã thừa nhận có nợ bà T số tiền trên trong quá trình giải quyết vụ án.

[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị D, bà D yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chỉ yêu cầu bà trả cho bà T số tiền 71.070.000 đồng và cho bà trả dần 1.000.000 đồng/tháng vì bà cho rằng đã trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T hai lần tiền, gồm 20.000.000 đồng và 14.500.000 đồng, bà D đều không nhớ chính xác thời gian trả, mặc dù trong sổ nợ do bà D cung cấp có dòng chữ thể hiện ngày 30/8 Lùn nhận của D 20.000.000 đồng nhưng dòng chữ này không thể hiện chính xác có phải 20.000.000 đồng này được trả sau khi chốt số nợ 105.570.000 đồng hay không, bà T cũng không thừa nhận bà D đã trả số tiền này, và ngoài lời trình bày bà D cũng không cung cấp được thêm các tài liệu, chứng cứ chứng minh mình đã trả cho bà T hai lần tiền nêu trên. Bên cạnh đó, bà D cũng thừa nhận có tham gia dây hụi, mua bán và vay tài sản của bà T, điều này hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện, nhưng vì bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên việc bà T yêu cầu bà D trả thêm phần tiền lãi chậm trả tính từ ngày 27/12/2024 đến ngày 21/5/2025 là phù hợp.

[2.3] Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, tại Biên bản hòa giải ngày 24/02/2025 mà Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành, bà D thừa nhận còn nợ số tiền là 105.570.000 đồng

[2.4] Đối với yêu cầu của bà D về việc xin trả dần mỗi tháng với số tiền là 1.000.000 đồng và tại phiên tòa phúc thẩm thì 500.000 đồng/tháng là không phù hợp với quy định pháp luật và không được nguyên đơn đồng ý nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T đối với việc yêu cầu bị đơn bà D có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền nợ là 105.570.000 đồng kèm tiền lãi chậm trả 4.200.000 đồng là phù hợp.

[3] Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu khác chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà D thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễn nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 nằm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Diệu .

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long).

Cụ thể tuyên:

Căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357,430, 463, 466, 468, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Diệu T2 cho nguyên đơn bà T số tiền (tiền hụi, tiền thịt heo, tiền vay) là 105.570.000 đồng (Một trăm lẻ năm triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng), tiền lãi là 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng), tiền lãi tính từ ngày 27/12/2024 đến ngày 21/5/2025, mức lãi suất 0,83%/tháng.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án (tất cả các khoản tiền) theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Diệu T2 số tiền 39.850.000 đồng, tiền lãi 11.256.695 đồng.
  4. Về án phí:
    • Bị đơn bà Nguyễn Thị D thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn toàn bộ án phí (gồm: án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm).
    • Hoàn trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.514.000 đồng (Bốn triệu năm trăm mười bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007220 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC + VKSNDTC: 02;
  • - TANDTCHCM: 01;
  • - VCT&KSXXPT: 01;
  • - VKSND TVL: 02;
  • - TAND KV8: 01;
  • - THADS TVL: 01;
  • - Phòng THADS KV8: 01;
  • - Đương sự: 03;
  • - Lưu VP: 01;
  • - Phòng KTNV&THA KV8: 01;
  • - Lưu: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 625/2025/DS-PT ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 625/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Trạng - Nguyễn Thị Diệu - Tranh chấp hợp đồng góp hụi, hợp đồng mua bán, hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger