Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 625/2025/HS-PT

Ngày: 21 - 11 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Phương

Các Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông

Ông Nguyễn Đình Trung.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 431/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Đặng Hùng C, Đặng Xuân V; do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai.

Bị cáo bị kháng nghị:

1. Đặng Hùng C (tên gọi khác: Sáu B), sinh năm 1993 tại Bình Định.

Nơi thường trú: Thôn Vạn Thiện, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (nay là xã Phù Mỹ Nam, tỉnh Gia Lai).

Chỗ ở: Khu phố Tân Phong, phường Xuân Tân, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Hàng Gòn, tỉnh Đồng Nai).

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Minh C1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Bị cáo từ năm 2021 chung sống như vợ chồng với chị Phạm Thị P, sinh năm 1982.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 14/12/2007, UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định ra quyết định số 415/QĐ-UB áp dụng biện pháp giáo dụng tại cấp xã, thời hạn 06 tháng từ ngày 14/12/2007 đến ngày 14/6/2008 do có hành vi trộm cắp tài sản.
  • + Ngày 26/12/2007, Công an huyện P, tỉnh Bình Định ra quyết định số 05 xử phạt vi phạm hành chính hình thức Cảnh cáo do có hành vi trộm cắp tài sản.
  • + Ngày 21/5/2008, UBND huyện P, tỉnh Bình Định ra quyết định số 1218/QĐ-U đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn là 24 tháng do có hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 04/01/2011 .
  • + Ngày 30/5/2016, Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 52/2016/HSST. Đến ngày 02/6/2018, chấp hành xong hình phạt tù, chấp hành xong án phí ngày 17/01/2017.

Tiền án:

  • + Ngày 21/01/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, tại Bản án số 04/2013/HSPT. Đến ngày 23/5/2013 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 11/6/2025 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.
  • + Ngày 28/03/2022, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 31/2022/HS-ST. Đến ngày 10/3/2023, chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực L. Hiện chuyển đến tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

2. Đặng Xuân V, sinh năm 1997 tại Đồng Nai.

Nơi thường trú: Ấp Tân Xuân, xã Bảo Bình, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai).

Chỗ ở: Khu phố Cẩm Tân, phường Xuân Tân, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Hàng Gòn, tỉnh Đồng Nai).

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn T1, sinh năm 1962 và bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1971; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là chị Tòng Thị Cẩm N, sinh năm 2005, có một con sinh ngày 08/10/2023.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 29/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 124/2021/HSST. Đến ngày 18/6/2022, chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 19/06/2025 tại Phân trại tạm giam khu vực L. Hiện chuyển đến tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

- Các bị hại:

1. Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: Tổ 1, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai)

2. Chị Danh Thị T3, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: ấp B, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, tỉnh Đồng Nai).

- Nguyên đơn dân sự:

1. Ông Trần Văn Q, sinh năm 1971.

Nơi cư trú: 8 ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (xã D, tỉnh Đồng Nai).

2. Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: tổ 2A, ấp 4, xã Sông Nhạn, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã Xuân Quế, tỉnh Đồng Nai).

Chổ ở: Tổ 6, khu phố Núi Tung, xã Suối Tre, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Bình Lộc, tỉnh Đồng Nai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Đặng Hùng C là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền mua ma túy sử dụng, C nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố L rồi mang đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Vào ngày 06/02/2024, Đặng Hùng C đi bộ lang thang trên địa bàn thành phố L, Đồng Nai nhằm tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, C đi vào siêu thị H1 trên đường H, thuộc khu phố B, phường X, thành phố L. Tại đây, C đi một vòng trong siêu thị rồi đi xuống tầng hầm để xe của siêu thị, quan sát xung quanh C thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, biển số 60B2-414.66 của anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1993 ngụ ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, nên đi đến tiếp cận gần chiếc xe mô tô, quan sát không thấy ai để ý, C lén lút tháo dây điện kết nối lại với cục đề nổ máy của xe để khởi động xe. Sau khi khởi động được xe C chạy ra khỏi hầm của siêu thị, khi đi đến chốt bảo vệ để kiểm tra vé xe trước khi được chạy xe ra khỏi hầm xe. Do không có vé xe nên C nói với ông Trần Văn Q, sinh năm 1971 thường trú tại 85/3, Nguyễn Thái H, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai C là nhân viên bảo vệ của Siêu thị H1. Lúc này, ông Q tin tưởng C là nhân viên siêu thị nên đã để cho C điều khiển chiếc xe máy trên qua chốt bảo vệ của siêu thị mà không kiểm tra vé xe như bình thường.

Sau khi lấy được xe C điều khiển xe về phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và liên hệ với Đặng Xuân V, sinh năm 1997, ngụ tại khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để bán xe cho V lấy tiền tiêu xài. C và V hẹn gặp nhau ở vườn chôm chôm thuộc khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để xem xe và trao đổi mua bán. Tại đây, C có nói với V chiếc xe mới trộm được, không có giấy tờ, V xem xe và đồng ý mua chiếc xe trên với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua xe, đến ngày 08/02/2024, vì cần tiền tiêu xài nên V đã lên mạng xã hội Facebook tìm người (không rõ nhân thân lai lịch) để bán chiếc xe, V đã bán chiếc xe trên với giá 4.000.000 đồng. Đến ngày 19/02/2024, bị cáo C đã đến Công an thành L để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Qua quá trình điều tra bị cáo C khai nhận còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Bệnh viện Đ, cụ thể như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 31/01/2024, C một mình đi bộ đến Bệnh viện Đ thuộc phường S, thành phố L, Đồng Nai để trộm cắp tài sản. C đi vào khu vực bãi giữ xe của Bệnh viện, quan sát xung quanh thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu trắng đỏ, biển số 60B5 - 520.00 của chị Danh Thị T3, sinh năm 1988 ngụ ấp B, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai đang gửi ở bãi giữ xe. C đi đến gần chiếc xe, quan sát xung quanh mọi người không để ý, lén lút tháo dây điện kết nối lại với cục đề nổ máy của xe nhằm mục đích khởi động xe. Sau khi kết nối xong, C lên xe và khởi động xe rồi điều khiển xe chạy ra khỏi bãi gửi xe, khi đi đến chốt bảo vệ thu vé xe. Lợi dụng lúc ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1982, ngụ ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai là nhân viên bảo vệ Bệnh viện quay lưng về hướng đi của C nên C đã điều khiển xe thẳng thông qua chốt bảo vệ, sau đó ông A mới phát hiện và đuổi theo nhưng không kịp. C điều khiển xe chạy ra cổng của Bệnh viện rẽ trái, chạy ngược chiều theo Quốc lộ A rồi hướng về phường B, thành phố L đến một đoạn đường đất trong lô cao su phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai rồi liên hệ với một đối tượng tên Bi (chưa rõ nhân thân lai lịch) để bán xe. C và B hẹn nhau tại vị trí C đang dừng xe để xem xe và thoả thuận mua bán. Khoảng 30 phút sau, B đi cùng với một nam thanh niên khác (không rõ nhân thân lai lịch) đi tới vị trí của C đang đợi, sau khi xem xe B đồng ý mua xe trên với giá 8.000.000 đồng, số tiền trên C tiêu xài hết.

* Tại bản kết luận số 10/HĐĐGTTTHS, ngày 23 tháng 02 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, biển số 60B2-414.66, có giá trị 10.138.500 đồng (Mười triệu một trăm ba mươi tám nghìn năm trăm đồng).

* Tại bản kết luận số 23/HĐĐGTTTHS, ngày 12 tháng 4 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: Một chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu trắng đỏ, biển số 60B5-520.00, có giá trị 5.638.500 đồng (Năm triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn năm trăm đồng).

- Vật chứng thu giữ: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, biển số 60B2-414.66 và xe mô một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu trắng đỏ, biển số 60B5-520.00 do C và V bán cho các đối tượng không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L không thu hồi được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tiếp tục xác minh truy tìm để xử lý sau theo quy định của pháp luật.

- Về dân sự: Ông Trần Văn Q, nhân viên bảo vệ siêu thị H1 có đơn yêu cầu bị cáo C, bị cáo V bồi thường số tiền 19.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn A, nhân viên bảo vệ Bệnh viện Đ có đơn yêu cầu C bồi thường số tiền 24.000.000 đồng. C đồng ý nhưng hiện chưa bồi thường cho ông Q và ông A.

Bị cáo V tự nguyện giao nộp số tiền 4.000.000 đồng khắc phục hậu quả. Hiện đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đồng Nai để phục vụ công tác xét xử.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Nai, đã quyết định như sau:

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Hùng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hùng C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Đặng Hùng C để đảm bảo thi hành án.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân V phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo Đặng Xuân V để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng nghị:

Ngày 09/9/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 02/KN-VKSKV4-ĐN, kháng nghị một phần bản án số: 27/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại tư cách tham gia tố tụng đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tuyên bố bị cáo Đặng Hùng C, Đặng Xuân V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy cấp sơ thẩm giải quyết là chưa phù hợp về tội danh của các bị cáo theo quy định của pháp luật. Tình tiết hành vi phạm tội của bị cáo C là có hành vi gian dối ông Q, khi qua cổng soát vé gửi xe, do không có vé gửi xe nên C nói với ông Q “C là nhân viên siêu thị” nhằm chiếm đoạt chiếc xe đang thuộc quyền quản lý của ông Quang thông Q1 hợp đồng gửi giữ. Như vậy, cần phải xác định ông Q là người bị hại, còn C đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự, còn bị cáo V là đồng phạm chịu trách nhiệm theo tội danh của bị cáo C.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại tư cách người tham gia tố tụng, tuyên bố bị cáo C, V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên về tội “Trộm

cắp tài sản”; đối với bị cáo Vũ G nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên nhưng xác định lại tội danh là “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh:

Đối với hành vi của bị cáo C, trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu trắng đỏ, biển số 60B5 – 520.00 vào ngày 31/01/2024 tại nhà giữ xe Bệnh viện đa khoa khu vực L, nội dung xác định hành vi trộm cắp này bản án sơ thẩm đã xác định rõ, không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét lại.

Đối với hành vi của bị cáo C chiếm đoạt chiếc xe mô tô để tại tầng hầm Siêu thị H1:

Ngày 06/02/2024, C đi bộ lang thang trên địa bàn thành phố L, Đồng Nai nhằm tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, C đi vào siêu thị H1 trên đường H, thuộc khu phố B, phường X, thành phố L. Tại đây, C đi một vòng trong siêu thị rồi đi xuống tầng hầm để xe của siêu thị, quan sát xung quanh C thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, biển số 60B2-414.66, nên đi đến tiếp cận gần chiếc xe mô tô, quan sát không thấy ai để ý, C lén lút tháo dây điện kết nối lại với cục đề nổ máy của xe để khởi động xe. Sau khi khởi động được xe C chạy ra khỏi hầm của siêu thị, khi đi đến chốt bảo vệ để kiểm tra vé xe trước khi được chạy xe ra khỏi hầm xe. Tại chốt bảo vệ, C nói với người của chốt bảo vệ (Sau này xác định là ông Trần Văn Q, bảo vệ tầng hầm của Siêu thị H1), C là nhân viên của Siêu thị H1 nhằm để người của chốt bảo vệ không ngăn lại kiểm tra, rồi chạy xe ra đường tẩu thoát.

Lời trình bày của ông Trần Văn Q (Bút lục 119, 120) thể hiện “ Tôi là Bảo vệ tầng hầm Siêu thị H1. Ca trực của tôi từ 07h00 đến 22h00. Vào lúc 14h05 có một thanh niên khoảng ngoài 30 tuổi chạy xe Exciter màu xanh từ tầng hầm gửi xe ra cổng sau, khi đi ngang chốt bảo vệ, người này nói với tôi, chú ơi con là nhân viên, con không lấy thẻ xe nha, rồi chạy thẳng ra đường, tôi nghỉ là nhân viên nên không để ý, đến lúc có người báo mất xe nên tôi mới biết người đó không phải là nhân viên siêu thị mà là đã trộm xe dưới tầng hầm”.

Như vậy, mục đích của bị cáo C là vào siêu thị để trộm cắp tài sản và cụ thể là C đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, biển số 60B2-414.66 tại tầng hầm để xe của Siêu thị H1, trên đường đem tại sản trộm cắp đi thì phải đi qua chốt bảo vệ, C đưa ra thông tin gian dối với người bảo vệ tại chốt “C là nhân viên siêu thị” nhằm mục đích đưa tài sản trộm cắp qua chốt bảo vệ mà không bị kiểm tra để tránh bị phát hiện hành vi trộm cắp, đây

là hành vi gian dối nhằm tẩu thoát đối với hành vi trộm cắp đã thực hiện, không phải là hành vi gian dối để rồi sau đó thực hiện việc chiếm đoạt tài sản.

Khách thể bị xâm phạm trong vụ án này là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, biển số 60B2-414.66 thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1993 ngụ ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nên bản án sơ thẩm xác định người bị hại là anh Nguyễn Văn X là đúng theo quy định. Đối với ông Trần Văn Q, là bảo vệ của Siêu thị H1, có trách nhiệm bảo vệ, trông coi tài sản gửi giữ tại tầng hầm siêu thị, khi xảy ra mất cắp (Trong thời gian ca trực) thì ông có trách nhiệm bồi thường đối với chủ sở hữu tài sản đã gửi giữ, thiệt hại của ông Q trong vụ án là thiệt hại thông qua thực hiện nghĩa vụ phải bồi thường cho chủ sở hữu tài sản đã gửi giữ nhưng bị mất cắp, ông Q không phải là chủ sở hữu của tài sản bị mất cắp, ông Q có yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường phần thiệt hại mà ông phải gánh chịu khi ông thực hiện trách nhiệm đối với chủ sở hữu tài sản bị mất cắp nên bản án sơ thẩm không xác định ông Q là bị hại trong vụ án mà xác định ông Q với tư cách là nguyên đơn dân sự là đúng theo quy định.

[3] Xem xét nội dung kháng nghị:

Từ những dẫn chứng, phân tích nêu trên, cho thấy bản án sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng trong vụ án và xét xử bị cáo Đặng Hùng C, Đặng Xuân V phạm tội “Trộm cắp tài sản” và là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Xét quan điểm của đại diện của Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là không phù hợp nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai.

1. Quyết định hình phạt:

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hùng C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai (2);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thế Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 625/2025/HS-PT ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 625/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát khu vực kháng nghị bản án sơ thẩm, cho rằng cấp sơ thẩm xét xử trộm cắp là không có cơ sở, hành vi của bị cáo C là phải xét xử tội lừa đảo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger