Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HS-ST

Ngày 05 tháng 12 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Liêm và bà Nguyễn Thị Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Nhị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Thị N, sinh ngày 20/3/1979. Nơi cư trú: ấp P, xã B, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con Bùi Văn N1, sinh năm 1964 và bà Đào Thị H, sinh năm 1964; chồng Hà Trung N2, sinh năm 1980; con Hà Trung H1, sinh năm 2002.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/8/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Trần Thị T, sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn H2, sinh ngày 01/01/1981. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang (có mặt)
  2. Ông Hà Trung N2, sinh ngày 12/3/1980. Nơi cư trú: ấp P, xã B, tỉnh An Giang (có mặt)

Người làm chứng:

  1. Chị Phạm Thị Thanh H3 (vắng mặt)
  2. Ông Huỳnh Thanh T1 (vắng mặt).
  3. Bà Trần Thị Kiều N3 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị N, sinh năm 1979, nơi cư trú ấp P, xã B, tỉnh An Giang, do cần tiền để trả nợ và tiêu xài nên có ý định tìm người nói dối mượn tiền để chiếm đoạt.

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 20/8/2025, Bùi Thị N điều khiển xe mô tô biển số 67N8-9643 (do chồng là Hà Trung N2 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký) đến khu vực ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang. Thấy nhà của Lê Văn H2 có Trần Thị T (vợ của H2), Phạm Thị Thanh H3 nên N dừng xe đậu trước sân nhà. Sau đó, N đi vào gặp T và H3 nói dối N là con của Bảy T2 (họ và tên là Huỳnh Thanh T1) và cháu của Hai D (họ và tên là Trần Thị Kiều N3), đồng thời N cho biết ông Bảy T2 bị tai nạn giao thông đang cấp cứu nên hỏi mượn tiền của T. T điện thoại cho H2 để N nói chuyện với H2. N tiếp tục nói Bảy T2 bị té xe và đang cấp cứu nên mượn tiền thì tắt điện thoại rồi đưa điện thoại cho T. Tin tưởng thật, T vào trong nhà lấy 6.000.000 đồng (gồm 12 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 500.000 đồng) đưa cho N rồi điều khiển xe bỏ đi. Sau đó, H2 về nhà gặp T thì T kể lại sự việc như trên nên H2 điện thoại cho Huỳnh Phong E con của T2 và được biết T2 không có bị tai nạn nhập viện. Biết bị lừa nên gia đình H2 xem lại camera phát hiện đặc điểm của N.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/8/2025, H2 điều khiển xe chạy trên đường, khi đến khu vực ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang phát hiện N điều khiển xe mô tô biển số 67N8-9643 nên chặn xe, giữ N lại và điện thoại trình báo Công an xã Đ, tỉnh An Giang. Sau đó, Lực lượng Công an xã Đ đến đưa N về trụ sở làm việc thì N khai nhận hành vi phạm tội nên lập biên bản đầu thú.

Ngày 29/8/2025, Bùi Thị N bị khởi tố điều tra.

Vật chứng thu giữ: 01 áo khoác dài tay bằng vải thun màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu vàng nhạt; 01 khẩu trang vải màu nâu nhạt; 01 xe mô tô biển số 67N8-9643, nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu đỏ đen bạc, số máy HC12E0065070, số khung RLHHC122X9Y052328.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSKV10, ngày 18/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang đã truy tố bị cáo Bùi Thị N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại Trần Thị T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn H2, người làm chứng Phạm Thị Thanh H3, Huỳnh Thanh T1 (B), Trần Thị Kiều N3 (H) trình bày như nội dung vụ án đã nêu. T và H2 đã nhận lại số tiền 6.000.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. T1, N3 không có quan hệ bà con với N. Ngày 20/8/2025, T1 không có bị tai nạn nhập viện.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hà Trung N2 trình bày đã khắc phục số tiền 6.000.000 đồng cho H2 và có làm biên nhận. Năm 2009, N2 mua xe mô tô biển số 67N8-9643 đứng tên chủ sở hữu, quản lý sử dụng. Ngày 20/8/2025, N lấy xe mô tô đi thực hiện hành vi lừa đảo thì N2 không biết và yêu cầu nhận lại xe mô tô.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị N từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội nêu trên của đại diện Viện Kiểm sát, đồng thời không tranh luận, bào chữa gì khác. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, tất cả những người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Bùi Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 20/8/2025 tại ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang; bằng thủ đoạn gian dối, bị cáo Bùi Thị N đã chiếm đoạt số tiền 6.000.000 đồng của Trần Thị T để trả nợ và tiêu xài.

Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Thị N đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chịu lo lao động để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình, ngược lại do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không phải đổ mồ hôi công sức nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, học vấn không biết chữ nên hiểu biết pháp luật hạn chế; sau khi vụ án xảy ra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hết số tiền 6.000.000 đồng cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, nhưng hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân vì phải thường xuyên đề cao cảnh giác. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tù như trên đối với bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với lời khai bị cáo cho rằng: Bằng thủ đoạn gian dối như trên vào ngày 25/8/2025, N chiếm đoạt số tiền 2.700.000 đồng của người phụ nữ khoảng 60 tuổi ở khu vực cầu K (cầu B) thuộc ấp H, xã T, tỉnh An Giang. Qua xác minh, không có bị hại đi trình báo và cũng không xác định được bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thực hiện bồi thường xong cho bị hại số tiền 6.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển số 67N8-9643, nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu đỏ đen bạc, số máy HC12E0065070, số khung RLHHC122X9Y052328 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho chủ sở hữu.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Thị N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2025.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoác dài tay bằng vải thun màu xanh, 01 (một) mũ bảo hiểm màu vàng nhạt, 01 (một) khẩu trang vải màu nâu nhạt.

Trả lại cho ông Hà Trung N2 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 67N8-9643, nhãn hiệu Honda loại Wave RS, màu đỏ đen bạc, số máy HC12E0065070, số khung RLHHC122X9Y052328.

(Tất cả đã qua sử dụng) (Đặc điểm tang vật như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - An Giang)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Thị N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 10 - An Giang;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan THAHS-Công an tỉnh An Giang;
  • - Phân trại tạm giam Cô Tô (Cơ sở 3);
  • - Phòng THADS khu vực 10 - An Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 62/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger