|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 9 - 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Thắm
- Ông Lê Phú Chánh Thể
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 29/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025, giữa:
-
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Chúc L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: số A, ấp B, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là số A, ấp B, xã C, tỉnh Vĩnh Long).
-
Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1988.
Địa chỉ: số A, ấp B, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là số A, ấp B, xã C, tỉnh Vĩnh Long).
Tại phiên tòa, chị L và anh C đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Chúc L trình bày:
Chị L và anh C qua tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 26/7/2010 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên không thể hàn gắn được. Do vậy, chị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Chị L trình bày và anh C chung sống với nhau có hai con chung là Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 và Lê Huỳnh Minh T, sinh ngày 01/02/2020. Khi ly hôn chị L có yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là Lê Thị Nguyệt Q1, đồng ý để anh C nuôi con là Lê Huỳnh Minh T, chị và anh mỗi người nuôi một con chung nên không phải cấp dưỡng nuôi con qua lại với nhau.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu xem xét giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn là anh Lê Văn C sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã có Thông báo hợp lệ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của chị L.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị L thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Bị đơn anh C chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan.
Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Chúc L.
- - Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Chúc L được ly hôn với anh Lê Văn C.
- - Về con chung: Chị L và anh C có 02 con chung là Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 và Lê Huỳnh Minh T, sinh ngày 01/02/2020.
- Giao con chung là Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 cho chị L tiếp tục, trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
- Giao con chung là Lê Huỳnh Minh T, sinh ngày 01/02/2020 cho anh C tiếp tục tiếp tục, trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Chị Huỳnh Thị Chúc L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Lê Văn C. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị L xác định vụ án có quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Lê Văn C là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú số 116, ấp B, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là số A, ấp B, xã C, tỉnh Vĩnh Long) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7- Vĩnh Long) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Huỳnh Thị Chúc L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, anh Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại các khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh C.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh C tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày ngày 26 tháng 7 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Chị L trình bày trong quá trình chung sống với nhau chị và anh C phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay không thể hàn gắn được. Do vậy, chị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh C.
Đối với anh C, trong quá trình giải quyết vụ án anh C đã được Tòa án Thông báo các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải về hôn nhân giữa chị L và anh C được. Đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L và anh C không có ý kiến phản đối, để cho chị L tự giải quyết.
Xét thấy, giữa chị L và anh C không còn tình nghĩa vợ chồng vì không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Bên cạnh đó, hiện tại anh chị đã không còn chung sống với nhau nữa.
Từ đó, có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của chị L và anh C lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L để giải quyết cho chị L được ly hôn với anh C.
[2.2] Về con chung:
Chị L và anh C có các con chung là Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 và Lê Huỳnh Minh T, sinh ngày 01/2/2020. Hiện nay, con chung là Lê Huỳnh Minh T, sinh ngày 01/2/2020 đang sống với anh C còn Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 sống với chị L. Khi ly hôn chị L có yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 cho đến khi con đủ 18 tuổi và đồng ý để anh C tiếp tục nuôi con chung là Lê Huỳnh Minh T cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh C không có ý kiến gì phản đối với với ý kiến của chị L việc nuôi con chung, đồng thời ý kiến của Lê Huỳnh Nguyệt Q cũng muốn tiếp tục sống chung chị L. Do vậy, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, nên cần giao con chung Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và giao con chung là Lê Huỳnh Minh T, sinh ngày 01/02/2020 cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về việc cấp dưỡng cho con: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình thì khi vợ hoặc chồng nuôi con chung thì có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị L cho rằng mỗi người nuôi một con chung nên không phải cấp dưỡng nuôi con qua lại với nhau là phù hợp, anh C không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày chị và anh C không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu xem xét giải quyết. Đối với anh C thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này anh C có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và ý kiến đề nghị về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng phí chị L đã nộp là 300.000 đồng. Chị L đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Chúc L.
- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Chúc L được ly hôn với anh Lê Văn C.
-
Về con chung:
Chị L và anh C có 02 con chung là Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 và Lê Huỳnh Minh T, sinh ngày 01/2/2020.
Giao con chung là Lê Huỳnh Nguyệt Q, sinh ngày 20/6/2010 cho chị L tiếp tục, trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Giao con chung là Lê Huỳnh Minh T, sinh ngày 01/02/2020 cho anh C tiếp tục tiếp tục, trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là Lê Huỳnh Nguyệt Q, mà không ai được quyền cản trở.
Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là Lê Huỳnh Minh T mà không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của các con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Huỳnh Thị Chúc L phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng phí chị L đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000560 ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị L đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Huệ |
Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 62/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
