Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 617/2025/DS-PT
Ngày: 16 -12- 2025
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng
Các Thẩm phán:Bà Sơn Nữ Phà Ca
Ông Đặng Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Khanh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Định - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 397/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 542/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1971; địa chỉ: số C, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là: số C, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long); có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Nhật Long H, luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V; có mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1965;
  2. Bà Huỳnh Thị Trúc L, sinh năm 1986.

Cùng địa chỉ: C, ấp T, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là: 358, ấp T, phường A, tỉnh Vĩnh Long).

  1. Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1988; địa chỉ: số D, ấp T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là: số D, ấp T, phường A, tỉnh Vĩnh Long).

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

  1. Ông Đỗ Hiệp P1, sinh năm: 1995; địa chỉ: số A ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là: số 114/3 ấp C, phường S, tỉnh Vĩnh Long);
  2. Ông Phan Tuấn A, sinh năm 1998; địa chỉ: ; là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, theo văn bản ủy quyền ngày 14/5/2025; có mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị K, bà Huỳnh Thị Trúc L, ông Huỳnh Văn P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ở Tòa án cấp sơ thẩm trình bày:

Vào ngày 03/4/2024, ông Q có ký hợp đồng nhận cọc mua bán đất với bà K đối với một phần thửa đất số 454, tờ bản đồ số 13 có tổng diện tích là 1.536,6m², trong đó có 200m² đất ở nông thôn, 1.336,3m² đất trồng cây lâu năm. Diện tích hai bên thỏa thuận đặt cọc để chuyển nhượng có chiều ngang 12m, chiều dài hết đất, diện tích 500m² trong đó có 100m² đất thổ ở tại xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre với giá chuyển nhượng là 360.000.000 đồng. Thửa đất nêu trên tại thời điểm các bên ký hợp đồng nhận cọc mua bán đất do ông Huỳnh Văn T (chồng bà K) và bà K đứng tên quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do lúc đó ông T đã chết, các đồng thừa kế của ông T chưa làm thủ tục nhận thừa kế nên không thể làm thủ tục chuyển nhượng cho ông Q được. Do vậy, hai bên thỏa thuận thời gian thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sau khi bà K, bà L, ông P làm thủ tục nhận thừa kế từ ông T sẽ tách thửa 454 thành 02 thửa, trong đó 01 thửa như diện tích thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Q và 01 thửa còn lại do gia đình bà K tiếp tục sử dụng. Ông Q đã giao tiền cọc cho bà K, ông P, bà L tổng số tiền 80.000.000 đồng, gồm lần 01 vào ngày 03/4/2024 giao 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng, lần 02 vào ngày 26/7/2024 giao 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

Đến tháng 9/2024, ông Q được phía bà K gửi phiếu xác nhận kết quả đo đạc tách thửa phần đất bà K dự kiến chuyển nhượng cho ông Q có diện tích 455,9m² (chiều ngang phía đầu ngoài thửa đất giáp đường ấp dài 12,33m, chiều ngang phía đầu trong thửa đất dài 8,39m), thuộc một phần thửa đất số 454, tờ bản đồ số 13, nay là thửa 577, tờ bản đồ số 13. Trong thửa này chỉ còn 50m² đất ở tại nông thôn, còn lại 405,9m² là đất trồng cây lâu năm. Bà K báo với ông Q là sẽ đứng sổ đất phần diện tích này và tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Q. Khi ông Q đối chiếu với thông tin thửa đất này thì không đúng với thông tin trong hợp đồng đặt cọc hai bên đã ký cụ thể chiều ngang của hợp đồng đặt cọc phía đầu ngoài thửa đất giáp đường đất có chiều ngang 12m và phía đầu đất phía sau cũng vậy, diện tích 500m² trong đó có 100m² đất ở nông thôn nhưng thông tin bà K cung cấp thì chiều ngang phía ngoài giáp đường đất chỉ có 12,33m, chiều ngang phía trong đất 8,39m, diện tích 455,9m² trong đó chỉ có 50m² nên ông Q không đồng ý nhận chuyển nhượng. Gia đình bà K không điều chỉnh lại diện tích như hợp đồng đặt cọc đã ký mà còn chửi bới, xúc phạm ông Q. Giữa các bên đã có những mâu thuẫn tranh cãi qua lại nên nguyên đơn không đồng ý nhận chuyển nhượng thửa 577 theo ý kiến của các bị đơn. Khi lập hợp đồng nhận đặt cọc mua bán đất hai bên không đo xác định diện tích 500m² trên hiện trạng của thửa 454 mà chỉ nhìn trên hiện trạng rồi ước lượng diện tích. Sau khi lập hợp đồng nhận cọc, ông Q có đề nghị thuê người đo nhưng bị đơn không đồng ý, bị đơn nói để bị đơn tự đo. Hiện tại bà K không thực hiện việc chuyển nhượng cho ông Q đúng diện tích đất đã thỏa thuận, bà K đã vi phạm hợp đồng. Vì vậy, ông Q khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc mua bán đất hai bên đã ký vào ngày 03/4/2024, yêu cầu bà K, bà L, ông P phải trả lại cho ông Q số tiền đã nhận đặt cọc là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng và bồi thường tiền cọc là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, tổng cộng là 160.000.000 (một trăm sáu mươi triệu) đồng. Nguyên đơn không yêu cầu thu thập thêm chứng cứ gì. Nguyên đơn đồng ý tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 2.936.000 đồng (hai triệu, chín trăm ba mươi sáu nghìn) đồng.

Theo bản tự khai, trong quá trình tham gia tố tụng, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Q. Thửa đất 454, tờ bản đồ số 13, có diện tích 1536,3m có nguồn gốc của gia đình để lại cho ông Huỳnh Văn T và bà Q. Ông bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 14/02/2019. Đến năm 2023 ông T chết, bà K cùng hai người con là Huỳnh Thị Trúc L và Huỳnh Văn P có thỏa thuận mua bán đất với ông Q đối với một phần của thửa đất số 454 với chiều ngang 12m và chiều dài hết đất, diện tích khoảng 500m² trong đó có 100m² đất thổ cư với giá chuyển nhượng là 360.000.000 (ba trăm sáu mươi triệu) đồng. Thời gian chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sau khi bà K cùng các con làm xong thủ tục nhận thừa kế đối với thửa 454, sẽ tách thửa 454 ra thành 02 thửa trong đó 01 thửa là đất trống có trồng một số cây lâu năm sẽ chuyển nhượng cho ông Q như đã thỏa thuận và 01 thửa có nhà của bà K . Ông Q kêu người xuống làm giấy đặt cọc và đặt cọc cho gia đình bà K 60.000.000 đồng, sau đó ông Q có đưa thêm 20.000.000 đồng. Tổng tiền đặt cọc các bị đơn đã nhận là 80.000.000 đồng.

Đến tháng 9/2024, các bị đơn đã làm xong tất cả thủ tục và có gọi cho ông Q thống nhất ngày lên Ủy ban nhân dân xã S để làm thủ tục sang tên chuyển nhượng đất như đã thỏa thuận thì ông Q đồng ý và thống nhất ngày với các bị đơn. Thửa 454 được tách thành hai thửa là thửa 576, tờ bản đồ số 13 diện tích 1080,3m² và phần đất thuộc thửa 577, tờ bản đồ số 13 diện tích 455,9m². Trên thửa 576 hiện nay có căn nhà của các bị đơn đang ở, thửa 577 là đất trồng cây, các bị đơn dự kiến chuyển nhượng cho nguyên đơn. Hiện nay các bị đơn vẫn đồng ý chuyển nhượng cho ông Q phần đất có diện tích 455,9m² thuộc thửa đất số 577, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre, trong đó có 50m² đất thổ cư nhưng ông Q không đồng ý, ông Q yêu cầu phải đúng và đủ diện tích như giấy đặt cọc ban đầu. Diện tích có ít hơn diện tích ban đầu thì các bị đơn cũng đồng ý thương lượng lại giá chuyển nhượng đất.

Các bị đơn không đồng ý trả lại tiền đặt cọc và bồi thường tiền cọc như yêu cầu của ông Q. Các bị đơn vẫn muốn tiếp tục chuyển nhượng và đồng ý chuyển nhượng cho ông Q phần đất có diện tích 455,9m² thuộc thửa đất số 577, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre, trong đó có 50m² đất thổ cư vì hiện tại không có tiền để trả lại tiền cọc và phạt cọc cho nguyên đơn. Khi các bên lập hợp đồng nhận đặt cọc mua bán đất, hai bên không đo diện tích 500m² trên hiện trạng. Gia đình bị đơn có yêu cầu nguyên đơn và bị đơn cùng có mặt dự đo đạc hai lần, nhưng lần đầu nguyên đơn không đến, lần thứ hai khi các bị đơn đo gần xong thì nguyên đơn có đến. Do thửa 577 phần phía trong đã đo sát nhà của bị đơn nên diện tích chỉ có 455,9m² và 50m² thổ cư. Nếu diện tích chuyển nhượng giảm so với thỏa thuận ban đầu thì bị đơn cũng đồng ý thương lượng lại giá chuyển nhượng. Trường hợp nguyên đơn không đồng ý nhận chuyển nhượng nữa thì nguyên đơn sẽ bị mất tiền cọc. Bị đơn không yêu cầu thu thập thêm chứng cứ gì. Phần đất tranh chấp do các bị đơn đang quản lý, sử dụng. Khi thỏa thuận đặt cọc, các bên không đo đạc không xác định vị trí thực tế, chỉ ước lượng diện tích là 500m². Khi đo đạc tách sổ đo bằng máy thì diện tích không đủ là khách quan chứ không phải bị đơn cố ý. Sau khi có kết quả đo có đơn cho ông Q, ông Q không phản đối nên bị đơn mới làm thủ tục tách sổ, bị đơn vẫn có thiện chí tiếp tục thỏa thuận để chuyển nhượng đất và đồng ý thương lượng giảm giá khi diện tích giảm, bị đơn không vi phạm thỏa thuận, nếu hủy việc đặt cọc, bị đơn không đồng ý trả lại tiền cọc và phạt cọc. Do đó, bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã quyết định (tóm tắt):

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn Q.

Tuyên bố hủy hợp đồng nhận cọc mua bán đất đề ngày 03/4/2024 giữa bên nhận đặt cọc bà Nguyễn Thị K với bên đặt cọc ông Lê Văn Q đối với phần đất có diện tích 500m², có 100m² đất ở thuộc thửa đất số 454, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là phường A, tỉnh Vĩnh Long).

Buộc bà Nguyễn Thị K, ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị Trúc L có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông Lê Văn Q số tiền đã đặt cọc là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Q về việc yêu cầu các bà Nguyễn Thị K, ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị Trúc L trả số tiền phạt cọc là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tiền lãi chậm trả, án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 26/8/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị K, bà Huỳnh Thị Trúc L, ông Huỳnh Văn P kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn nộp đơn xác nhận của những hộ dân gần nhà và cho rằng do nguyên đơn không đưa xe kube vào cải tạo đất được nên mới phát sinh tranh chấp và yêu cầu hủy còn thực tế là đã chuyển nhượng đất. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ngừng lại phiên tòa để xác minh thêm những người xung quanh về ý chí của nguyên đơn và sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày do hợp đồng chuyển nhượng có đối tượng không thực hiện được và thỏa thuận là chuyển nhượng diện tích 500m² nhưng tách thửa không đúng diện tích thỏa thuận, các bên cũng không có thỏa thuận sẽ chuyển nhượng diện tích đất ít hơn. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy hợp đồng nhận cọc mua bán đất đề ngày 03/4/2024, buộc các bị đơn có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số tiền đặt cọc đã nhận là 80.000.000 đồng, không chấp nhận phạt cọc 80.000.000 đồng là phù hợp, có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm; về án phí buộc các bị đơn mỗi người phải chịu 300.000 đồng nhưng do bà K là người cao tuổi nên miễn nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị K, bà Huỳnh Thị Trúc L, ông Huỳnh Văn P, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • [1.1] Bị đơn bà Nguyễn Thị K, ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị Trúc L kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  • [1.2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp được xác định đúng là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Việc Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh Long giải quyết là phù hợp với quy định về thẩm quyền.
  • [1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét ngừng lại phiên tòa để xác minh thêm những người xung quanh về ý chí của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết nên không chấp nhận.

[2] Về nội dung:

Hợp đồng đặt cọc ngày 03/4/2024 thỏa thuận bị đơn chuyển nhượng cho nguyên đơn phần đất có diện tích 500m², trong đó có 100m² đất ở nông thôn và chiều ngang là 12m. Số tiền đặt cọc là 80.000.000 đồng.

Sau khi tách thửa, phần đất thực tế mà bị đơn cam kết chuyển nhượng (thửa 577) chỉ có diện tích 455,9m², trong đó có 50m² đất ở nông thôn. Bị đơn cũng thừa nhận chiều ngang phía trong thửa đất không đủ 12m như thỏa thuận ban đầu. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng đặt cọc và buộc bị đơn bồi thường. Bị đơn không đồng ý.

Căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 thì đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Do bên bán (bị đơn) không thể chuyển nhượng đất với đúng diện tích và mục đích sử dụng đất đã cam kết trong hợp đồng đặt cọc, dẫn đến bên mua (nguyên đơn) không đồng ý nhận chuyển nhượng. Xét lỗi:

  • [2.1] Lỗi của Bị đơn (Bên bán): Bị đơn đã không đảm bảo được điều kiện của tài sản chuyển nhượng như đã cam kết trong hợp đồng đặt cọc (không đủ diện tích tổng 500m², không đủ 100m² đất ở, chiều ngang không đảm bảo 12m). Việc bị đơn không thể thực hiện đúng cam kết là vi phạm nghĩa vụ cơ bản của thỏa thuận đặt cọc.
  • [2.2] Lỗi của Nguyên đơn (Bên mua): Nguyên đơn cũng có lỗi khi các bên không đo đạc, không xác định vị trí, diện tích cụ thể của 500m² đất trên hiện trạng tại thời điểm ký hợp đồng. Nguyên đơn cũng không đồng ý thương lượng lại giá và diện tích để tiếp tục nhận chuyển nhượng.

Như vậy, việc không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng là do lỗi của cả hai bên. Do đó, Tòa án sơ thẩm tuyên hủy hợp đồng và buộc bị đơn liên đới trả lại tiền cọc 80.000.000 đồng là có căn cứ, bởi lẽ, do lỗi của cả hai bên nên không áp dụng chế tài phạt cọc. Bị đơn yêu cầu bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tức là yêu cầu nguyên đơn bị mất cọc, là không có cơ sở vì bị đơn rõ ràng đã không thể cung cấp diện tích đất chuyển nhượng đúng như mô tả trong hợp đồng đặt cọc.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy quyết định của Tòa án sơ thẩm về việc tuyên hủy hợp đồng đặt cọc và buộc bị đơn liên đới trả lại tiền đặt cọc 80.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và không phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên đều không được chấp nhận.

[4] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long về nội dung vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị K, ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị Trúc L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, riêng bà K là người cao tuổi và có đơn xin miễn nên được miễn nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị K, ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị Trúc L.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh Long.

Cụ thể tuyên:

Căn cứ Điều 3 và 328 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm b, Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn Q.

Tuyên bố hủy hợp đồng nhận cọc mua bán đất đề ngày 03/4/2024 giữa bên nhận đặt cọc bà Nguyễn Thị K với bên đặt cọc ông Lê Văn Q đối với phần đất có diện tích 500m², có 100m2 đất ở thuộc thửa đất số 454, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là phường A, tỉnh Vĩnh Long).

Buộc bà Nguyễn Thị K, ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị Trúc L có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông Lê Văn Q số tiền đã đặt cọc là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Q về việc yêu cầu các bà Nguyễn Thị K, ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị Trúc L trả số tiền phạt cọc là 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Văn Q có nghĩa vụ nộp là 4.000.000 (bốn triệu) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0007356 ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Bà Nguyễn Thị K, ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị Trúc L có trách nhiệm liên đới nộp án phí dân sự có giá ngạch là 4.000.000 (bốn triệu) đồng và án phí không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm:

  • - Bà Huỳnh Thị Trúc L, ông Huỳnh Văn P mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mỗi người đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo các biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002293 và 0002294 ngày 27/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bà Nguyễn Thị K được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC + VKSNDTC: 02;
  • - TANDTCHCM: 01;
  • - VCT&KSXXPT: 01;
  • - VKSND TVL: 02;
  • - TAND KV7: 01;
  • - THADS TVL: 01;
  • - Phòng THADS KV7: 01;
  • - Đương sự: 08;
  • - Lưu VP: 01;
  • - Phòng KTNV&THA KV7: 01;
  • - Lưu: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 617/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 617/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Quyến - Nguyễn Thị Kiệp -Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger