Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

VIỆT NAM

KHU VỰC 7- ĐỒNG NAI

Bản án số: 60/2025/HS-ST

Ngày: 02/12/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Hoàng Xuân Mẫn

Bà: Trần Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu T, trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 63/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: VÕ THÀNH L; Năm sinh 1994, tại Đồng Nai. CCCD: [...]; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông: Võ Văn H – sinh năm 1970 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1976.

Anh chị em ruột: 04 người, bị can là con lớn nhất trong gia đình.

Vợ, con: Không

* Tiền sự: không

* Tiền án: 01

+ Tại bản án số 36/2024/HS-PT, ngày 18/01/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử tù có thời hạn 2 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, (Bút lục số 125-126); chấp hành xong hình phạt tù và các nghĩa vụ khác ngày 23/01/2025. (Bút lục số 65).

Bị bắt ngày 14/7/2025 và đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.

2. Họ và tên: NGUYỄN THANH P; Năm sinh 1992; tại Đồng Nai. CCCD: [...]; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp P, xã T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Văn T – sinh năm 1954; Và bà: Nguyễn Thanh L2- Sinh năm: 1966; Anh chị em ruột: 04 người, bị can là con thứ hai trong gia đình.

Vợ, con: Không

* Tiền án: Không

* Tiền sự:

Ngày 10/9/2024, Công an xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng (Bút lục số 98); UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý;

Ngày 21/01/2025, Chủ tịch UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (cũ) ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý và ra Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thời hạn từ ngày 21/01/2025 đến 21/01/2026 đối với Nguyễn Thanh P.

Bị bắt ngày 24/7/2025 và đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ cho đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 14/7/2025, Công an xã T, tỉnh Đồng Nai bắt quả tang Võ Thành L và Nguyễn Thanh P đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của L, thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ đục 02 lỗ (một lỗ gắn một ống nỏ thủy tinh, bên trong có bám dính các tinh thể màu trắng, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng);
  • - 01 điện thoại đi động, hiệu Iphone 7 Plus màu đen (đã qua sử dụng) số máy: MN4M2KH/A, số seri: C39T5D1HHFY7.
  • - 01 bật lửa màu xanh; (Bút lục số 23-24).

Quá trình điều tra xác định:

Võ Thành L là đối tượng có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 23/01/2025, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương. Nguyễn Thanh P là đối tượng đang cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thời hạn từ ngày 21/01/2025 đến 21/01/2026 theo Quyết định số 48/QĐ-QLNN ngày 21/01/2025 của Chủ tịch UBND xã P, huyện Đ (cũ). L và P là bạn bè và đều là những đối tượng nghiện ma túy.

Chiều ngày 14/7/2025, P sử dụng tài khoản Messenger tên “Phong G” nhắn tin qua tài khoản Messenger tên “Vothien Hoanglong" của L nhờ L mua giúp 400.000 đồng ma túy đá, L đồng ý. Sau đó, L sử dụng số điện thoại 0589.018.xxx gọi đến số 0353.102.054 của K (chưa rõ nhân thân lai lịch) để nhờ K mua giúp 400.000 đồng ma túy và mượn của K 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá thì được K đồng ý, K nói có ma túy sẽ gọi lại cho L.

Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, K gọi điện thoại cho L nói đang chạy đến nhà L để giao ma túy, L đi bộ ra đường gặp K và nhận 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ đục hai lỗ, một lỗ gắn nỏ thủy tinh, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa màu trắng) và 01 gói ma túy. Sau khi nhận ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy và trả 400.000 đồng cho K xong, L vào phòng khách và mở gói ma túy ra xem thì thấy lượng ma túy ít hơn so với số tiền 400.000 đồng nên L nhắn tin lại cho K với nội dung “có thể mua giùm ma túy thêm nữa không” thì K từ chối. Sau khi K từ chối, L đã nhắn tin qua M cho P với nội dung “thua rồi” – ý là không mua được ma túy cho P, nhưng không thấy P trả lời. Do đang có nhu cầu sử dụng ma túy nên L đổ một ít ma túy vào nỏ thủy tinh của bộ dụng cụ, phần ma túy còn lại trong túi nylon L để lại dưới nền nhà. Sau đó, L dùng bật lửa hơ nóng nỏ thủy tinh, cho ma túy tan chảy tạo ra khói thì hít vào cơ thể.

Do L nhờ P mua giúp cho L hộp cơm gà, trên đường đi mua cơm cho L, P đã làm rơi điện thoại nên không liên lạc được với L và ngồi ở nhà chờ L đến đón. Đợi lâu không thấy L đến nên khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, P đi bộ đến nhà L và hỏi “có mua được ma túy cho tôi không” thì L trả lời “không mua được”. Thấy L có ma túy nên P đã xin L cho P sử dụng vài hơi thì L đồng ý. L lấy gói nylon chứa số ma túy còn lại đổ hết vào nỏ thủy tinh của bộ dụng cụ rồi để ra nền nhà, P lấy bật lửa của Long hơ nóng ma túy tạo ra khói và sử dụng, P sử dụng xong thì L cũng sử dụng thêm vài hơi nữa (L tự nấu ma túy sử dụng). Đến 16 giờ cùng ngày, L và P đang sử dụng ma túy thì Công an xã T, tỉnh Đồng Nai đến kiểm tra, bắt quả tang hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của L cùng tang vật. (Bút lục số 74-88; 111-117).

Kết quả giám định chất ma túy:

Căn cứ kết luận giám định số 1139/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất bám dính trong 01 (một) nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý. Loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng. (Bút lục số 37).

Căn cứ kết luận giám định số 1140/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu của Nguyễn Thanh P được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine và chất chuyển hoá của Methamphetamine trong nước tiểu. (Bút lục số 38).

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong được hoàn lại sau giám định số: 1139/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
  • - Mẫu nước tiểu được niêm phong hoàn lại sau giám định số: 1140/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
  • - 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ đục 02 lỗ, 01 (một) ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa màu xanh là dụng cụ dùng để tổ chức sử dụng ma túy.
  • - 01 (một) điện thoại đi động hiệu Apple, loại Iphone 7 Plus màu đen, số máy: MN4M2KH/A, số seri: C39T5D1HHFY7 là điện thoại của L (bị bể màn hình, đã qua sử dụng). L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội (liên hệ mua ma túy).

Đối với đối tượng tên K là người đã bán ma túy cho L, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT đã kiểm tra điện thoại, xác minh đối tượng tại địa phương nhưng không xác định được.

Đối với số thuê bao 0589.018.430 của L sử dụng để gọi đến số 0353.102.054 của K nhờ mua giúp ma túy và giao, nhận ma túy với nhau. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã gửi văn bản đến Cục B, Tập đoàn C yêu cầu cung cấp thông tin về nhật ký cuộc gọi của 02 số thuê bao: 0589018430 và 0353102054 nhưng chưa có kết quả trả lời. Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh làm rõ đề nghị xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKS-TN ngày 05/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai truy tố: Võ Thành L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thanh P về tội” Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo: Võ Thành L từ: 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ: 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù

* Vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa tuyên:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại đi động, hiệu Iphone 7 Plus màu đen (bị bể màn hình, đã qua sử dụng) số máy: MN4M2KH/A, số seri: C39T5D1HHFY7.

- Tịch thu và tiêu hủy:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong được hoàn lại sau giám định số: 1139/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng;
  • - 01 bật lửa màu xanh;

* Các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng tên K là người đã bán ma túy cho L, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT đã kiểm tra điện thoại, xác minh đối tượng tại địa phương nhưng không xác định được.

- Đối với số thuê bao 0589.018.430 của L sử dụng để gọi đến số 0353.102.054 của K nhờ mua giúp ma túy và giao, nhận ma túy với nhau. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã gửi văn bản đến Cục B, Tập đoàn C yêu cầu cung cấp thông tin về nhật ký cuộc gọi của 02 số thuê bao: 0589018430 và 0353102054 nhưng chưa có kết quả trả lời. Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh làm rõ đề nghị xử lý sau.

Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai này phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 14/7/2025, tại nhà của Võ Thành L thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai, L đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và cùng sử dụng với Nguyễn Thanh P (P là người đang chấp hành Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng)

Do vậy, Cáo trạng số 14/CT-VKS-KV7 ngày 05/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đồng Nai truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ của vụ án, vai trò của từng bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, việc mua ma túy để sử dụng bị nghiêm cấm. Người nghiện ma túy bị ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần, gây ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Việc sử dụng ma túy là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều là người trưởng thành, đủ nhận thức để biết rõ mức độ nguy hiểm của ma túy, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ không chính đáng của bản thân các bị cáo đã cung cấp ma túy, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo P là người là người đang chấp hành quyết định tự nguyện cai nghiện ma túy tại gia đình và công đồng. Vì vậy cần có mức án đủ nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Xét vai trò từng bị cáo trong vụ án: Bị cáo L là người trực tiếp tổ chức cho P sử dụng ma túy nên L có vai trò cao hơn P.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng:

  • + Bị cáo Võ Thành L có 01 tình tiết “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ lật hình sự.
  • + Bị cáo Nguyễn Thanh P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ :

  • + Bị cáo Nguyễn Thanh P có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại i và tình tiết “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ lật hình sự.
  • + Bị cáo Võ Thành L có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ lật hình sự

[5] Về hình phạt:

Đối với Võ Thanh L3 phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo P phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để các bị cáo có thời gian cải tạo, học tập, lao động trở thành con người tốt có ích cho xã hội.

[6] Về vật chứng vụ án:

* Vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa tuyên:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại đi động, hiệu Iphone 7 Plus màu đen (bị bể màn hình, đã qua sử dụng) số máy: MN4M2KH/A, số seri: C39T5D1HHFY7.

- Tịch thu và tiêu hủy:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong được hoàn lại sau giám định số: 1139/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng;
  • - 01 bật lửa màu xanh;

[7] Các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng tên K là người đã bán ma túy cho L3, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT đã kiểm tra điện thoại, xác minh đối tượng tại địa phương nhưng không xác định được.

- Đối với số thuê bao 0589.018.430 của L3 sử dụng để gọi đến số 0353.102.054 của K nhờ mua giúp ma túy và giao, nhận ma túy với nhau. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã gửi văn bản đến Cục B, Tập đoàn C yêu cầu cung cấp thông tin về nhật ký cuộc gọi của 02 số thuê bao: 0589018430 và 0353102054 nhưng chưa có kết quả trả lời. Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh làm rõ đề nghị xử lý sau.

[ 8 ] Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai tại phiên toà có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38; Điều 50, 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Võ Thành L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo : Võ Thành L 09(chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2025;

2. Áp dụng điểm a, khoản 1, điều 256a; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 38, điều 50, điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thanh P Phạm tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy"

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thanh P 02(Hai) 06(sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2025;

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại đi động, hiệu Iphone 7 Plus màu đen (bị bể màn hình, đã qua sử dụng) số máy: MN4M2KH/A, số seri: C39T5D1HHFY7.

- Tịch thu và tiêu hủy:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong được hoàn lại sau giám định số: 1139/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng; - 01 bật lửa màu xanh;

(Vật chứng được lưu giữ Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – ĐỒNG NAI theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2025 ).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Võ Thành L, Nguyễn Thanh P mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Khu Vực 7;
  • - CQTHAHS tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng Thi hành án khu vực 7;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- ĐỒNG NAI về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vo Thanh L va dong pham pham toi tang tru trai phep chat ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger