|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày 13 - 11 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Ngọc Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Quang, Ông Lê Sỹ Kiên
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa (cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Cao Đình T, sinh ngày 03/7/1998 tại: tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Thôn C, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Đình C và bà Nguyễn Thị H; Vợ con: Chưa có;
Tiền án: 02 tiền án:
- - Ngày 18/10/2017, bị Toà án nhân dân huyện Hoằng Hóa (Nay là TAND khu vực 4), tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong bản án ngày 28/01/2022;
- - Ngày 06/7/2023, bị Toà án nhân dân huyện Hoằng Hóa (Nay là TAND khu vực 4), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/10/2024.
Tiền sự: Không;
2
Nhân thân: Ngày 14/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/7/2025, chuyển tạm giam từ ngày 08/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực H – Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- - Anh Hoàng Ánh H1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Địa chỉ: SN C, Đ, thôn C, xã H, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 03/7/2025, Công an xã H, tỉnh Thanh Hóa nhận được tin báo của anh Hoàng Ánh H1, về việc có đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy tại nhà nghỉ. Tổ công tác của Công an xã H đã tiến hành kiểm tra tại nhà nghỉ E phát hiện Cao Đình T có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì T đã ném từ tay trái xuống đất 01 túi zip nilon màu trắng. Tổ công tác đã thu giữ tại chỗ: 01 túi zip màu trắng viền đỏ kích thước (9,5x15,5) cm bên trong có đựng 05 túi zip màu trắng viền xanh kích thước mỗi túi (3x3) cm, bên trong mỗi túi đều chứa các hạt tinh thể màu trắng và 06 viên nén màu xanh. T khai nhận chất tinh thể màu trắng chứa trong túi zip là ma túy dạng Ketamine, viên nén màu xanh là ma túy tổng hợp dạng “kẹo” T mua về chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Niêm phong trong phong bì ký hiệu M. Ngoài ra, còn thu giữ của Cao Đình T 01 điện thoại Iphone 7Plus màu đen (đã qua sử dụng). Kiểm tra phòng của T vừa thuê, Tổ công tác không phát hiện thu giữ được gì liên quan đến vụ án.
Thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp số 2371/LKX-CSMT ngày 03/7/2025 tại chỗ ở của Cao Đình T tại thôn C, xã H, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan CSĐT không thu giữ được gì liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 2361/KL-KTHS ngày 08/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- + Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 7,322g loại Ketamine.
- + 06 viên nén màu xanh của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,386g loại MDMA.
3
Quá trình điều tra xác định: khoảng 18h ngày 02/7/2025, T thuê xe taxi ghép đi từ khu vực gần nhà nghỉ E ở xã H, tỉnh Thanh Hóa đến khu vực phía sau Bệnh viện Đ thuộc phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để mua ma túy về tổ chức sinh nhật và sử dụng dần. Tại đây, T mua của người đàn ông tên Tiến A với giá 11.000.000₫ được 01 túi zip bên trong có chứa 05 túi nilon nhỏ đựng ma túy Ketamine và 06 viên nén màu xanh ma túy loại MDMA. Sau khi mua được ma túy, T bắt xe ôm dọc đường về nhà nghỉ E xã H để thuê phòng nghỉ.
Cáo trạng số 14/CT-VKSKV4 ngày 28/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa truy tố bị cáo Cao Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), tuyên bố bị cáo Cao Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Cao Đình T từ 07 (bảy) năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 điểm c khoản 1 Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại nhãn hiệu di động Iphone 7 Plus màu đen.
- - Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa đã đề nghị. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 10h ngày 03/7/2025 tại nhà nghỉ E ở thôn B, xã H, tỉnh Thanh Hóa, Cao Đình T đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Tổng số ma túy mà T phải chịu trách nhiệm hình sự là 10,708gam, bao gồm 7,322g Ketamine và 3,386g MDMA. Bị cáo có 02 tiền án, tại lần phạm tội trước đã bị áp dụng tình tiết “Tái phạm”, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, đồng thời tàng trữ trái phép 02 chất ma túy (Ketamine và MDMA) nên hành vi của Cao Đình T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Hành vi của bị cáo thể hiện rõ sự coi thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên cần áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tương xứng, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5
Trong vụ án này Cao Đình T có khai mua ma túy của người đàn ông có tên là Tiến A ở khu vực phía sau Bệnh viện Đ thuộc phường Đ, tỉnh Thanh Hóa, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh T không có cơ sở xử lý là phù hợp.
[4] Về vật chứng:
- - Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;
- - 01 điện thoại nhãn hiệu di động Iphone 7 Plus màu đen là tài sản riêng của Cao Đình T, bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[5]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm n, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Cao Đình T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 03/7/2025).
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T; Trả lại cho bị cáo Lê Đình T1 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen. Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng số 06/BBGN2026 ngày 10/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Thanh Hóa.
Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc bị cáo Cao Đình T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành thi hành án
6
theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Vân |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Đình T bị điều tra, truy tố, xét xử và tuyên phạt về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
