|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày 30 – 9 – 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Trúc Hoa – Phó Bí thư đoàn
- Bà Lại Thị Hằng – Giáo viên nghỉ hưu
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Cẩm Hương, thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thu Hoài kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1998 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn N, xã A; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Vũ Thị V, chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 20 ngày 25/5/2021 Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; tạm giữ ngày 24/7/2025; tạm giam ngày 31/7/2025; có mặt.
Bị hại: Cháu Nguyễn Lê M, sinh năm: 2010; nơi đăng ký thường trú: thôn N, xã A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ E, phường K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Lê M: Bà Phạm Thị L (Mẹ đẻ); nơi đăng ký thường trú: thôn N, xã A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ E, phường K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Lê M: Bà Đoàn Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T1, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 22/7/2025, Lê Văn H trú tại thôn N, xã A, thành phố Hải Phòng điều khiển xe mô tô Honda Airblade màu đỏ, biển kiểm soát 16N2-5506 đến quán C, địa chỉ tại số A N, phường P, thành phố Hải Phòng để chơi. Khoảng 21 giờ 35 phút, H đi về phát hiện 01 chiếc xe đạp loại thể thao, màu đen nhãn hiệu MAGICBROS CX7 của cháu Nguyễn Lê M, sinh ngày 31/05/2010, nơi ở tổ E, phường K, thành phố Hải Phòng để trước cửa quán và ngồi trong quán chơi điện tử. Lợi dụng không có ai trông coi nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H điều khiển xe mô tô ra dựng ở đầu ngõ và đi bộ quay lại khu vực cửa quán Internet, dắt xe đạp ra, đặt lên phía sau của xe mô tô chở sang khu vực trung tâm thành phố để bán. Khi đến trung tâm thành phố, H để xe mô tô ở cây xăng, sau đó điều khiển xe đạp đi tìm nơi tiêu thụ. H đạp xe đến khu vực đường T thấy nhà số B T, phường L, thành phố Hải Phòng mở cửa, H vào nhà gặp chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1970 nói muốn bán chiếc xe đang đi với giá 600.000 đồng. Chị K xem xét và thỏa thuận mua với giá 300.000 đồng. Số tiền bán được xe H đã chi tiêu còn lại 185.000 đồng.
Khoảng 22 giờ ngày 22/7/2025 cháu M ra cửa quán lấy xe đạp để về nhà thì phát hiện bị mất xe nên trình báo Công an phường P, thành phố Hải Phòng.
Cùng ngày Lê Văn H đến Công an phường P đầu thú và giao nộp 01 áo phông ngắn tay, 01 quần bò dài tối màu, 01 đôi dép màu đen, số tiền 185.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Airblade mang biển kiểm soát 16N2-5506 và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát và thu thập 01 file hình ảnh liên quan đến vụ việc được trích xuất từ camera an ninh nhà số A N, phường P, Hải Phòng. Dữ liệu lưu trữ trong 01 USB.
Tại Kết luận giám định số 2234 ngày 20/8/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: 01 tập tin video có phần mở rộng “MP4” dung lượng 33,6MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu TOSHIBA 4GB đã qua sử dụng không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải Lê Văn H đi xác định địa điểm bán xe đạp tại số nhà B T, thành phố Hải Phòng. Bà Nguyễn Thị K khai nhận khi đang ở nhà, có thanh niên vào gạ mua xe đạp, do có nhu cầu mua xe đạp đi tập thể dục và không biết chiếc xe đạp là tài sản do H trộm cắp mà có nên bà đã mua với giá 300.000 đồng. Sau khi biết xe đạp là tài sản trộm cắp, bà K đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Tại Kết luận định giá số 29 ngày 31/7/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng kết luận: 01 xe đạp nhãn hiệu MAGICBROCS CX7 có giá trị 2.800.000 đồng.
Cháu Nguyễn Lê M trình bày: Khoảng 21 giờ ngày 22/7/2025 cháu có đi chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu MAGICBROS màu đen từ nhà đến quán I ở địa chỉ số A đường N, phường P, thành phố Hải Phòng để chơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì cháu ra về và phát hiện tại khu vực để xe không thấy xe đạp đâu. Cháu M đã nhờ chủ quán cho xem lại camera và phát hiện 21 giờ 36 phút có thấy một thanh niên đã lấy xe đạp của cháu M đi ra đầu ngõ và không thấy quay lại nên cháu M đến Cơ quan công an phường P trình báo vụ việc.
Về vật chứng:
Đối với 01 xe đạp nhãn hiệu MAGICBROS CX7 màu đen, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của cháu Nguyễn Lê M, Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với 01 đĩa USB nhãn hiệu TOSHIBA lưu trữ 01 video ghi lại hình ảnh trộm cắp tài sản của Lê Văn H chuyển theo hồ sơ vụ án.
Chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Hải Phòng: 01 áo phông ngắn tay không có cổ màu đen, 01 quần bò dài tối màu, 01 đôi dép màu đen và số tiền 185.000 đồng.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát: 16N2-5506, H sử dụng làm phương tiện phạm tội, H khai nhận là tài sản của H nhưng không có giấy tờ xác minh chủ sở hữu. Quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Lê M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Đối với số tiền 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim M1 xe đạp của Lê Văn H, bà K không yêu cầu bồi thường.
Đối với bà Nguyễn Thị Kim L1 người mua xe đạp của Lê Văn H do bà K không biết là tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an thành phố H không xử lý.
Tại Cáo trạng số 39/CT-VKSKV5 ngày 08 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 đã truy tố Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn H mức hình phạt từ 12 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông ngắn tay không có cổ màu đen, 01 quần bò dài tối màu, 01 đôi dép màu đen và tịch thu sung quỹ số tiền 185.000 đồng (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 11/09/2025 và Uỷ nhiệm chi giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 17/9/2025). Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Không tranh luận tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xem xét hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án, thái độ khai báo thành khẩn, phạm tội nhưng không gây thiệt hại lớn, bị cáo đầu thú và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Người bị hại là cháu Nguyễn Lê M đã nhận lại tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H mức án khởi điểm mà Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Lê Văn H đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
- Bị hại cháu Nguyễn Lê M và người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Lê M: Bà Phạm Thị L đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại.
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
- Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ chứng minh có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 22/7/2025, Lê Văn H đến quán C tại địa chỉ số A N, phường P, thành phố Hải Phòng lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 xe đạp nhãn hiệu MAGICBROS CX7 trị giá 2.800.000 đồng của cháu Nguyễn Lê Minh S ngày 31/5/2010. Hành vi của bị cáo Lê Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tính chất của vụ án:
- Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật Hình sự đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo có 01 tiền án (Bản án số 20 ngày 25/5/2021 Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chưa được xóa án tích) nay bị cáo phạm tội là “tái phạm” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình, “người phạm tội thành khẩn khai báo”, “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng:
- Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 đề xuất là phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
- Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại cháu Nguyễn Lê M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Bà Nguyễn Thị K không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và hoàn trả số tiền 300.000 đồng mua xe đạp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
- Vật chứng thu giữ là 01 áo phông ngắn tay không có cổ màu đen, 01 quần bò dài tối màu, 01 đôi dép màu đen (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 11/09/2025) không còn giá trị sử dụng nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 185.000 đồng thu giữ của bị cáo (Theo Uỷ nhiệm chi Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 17/9/2025) xét là tiền do phạm tội mà có nên căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Về án phí:
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 7 năm 2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông ngắn tay không có cổ màu đen, 01 quần bò dài tối màu, 01 đôi dép màu đen (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 11/09/2025) và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 185.000 đồng (Theo Uỷ nhiệm chi Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 17/9/2025).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Khắc Thịnh |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H - Trộm cắp tài sản
