|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày 19 - 11 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Ngọc, Giáo viên
Bà Trần Thị Học, Giáo viên (Đã nghỉ hưu)
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Chanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Bằng Quang K, sinh ngày 28/11/2007 (Khi phạm tội 17 tuổi 5 tháng 21 ngày) tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bằng Văn B và bà Lưu Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương “có mặt”.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Bằng Văn B, sinh năm 1987 (Là bố bị cáo); địa chỉ: Thôn P, xã Đ, tỉnh Phú Thọ “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thúy H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T3 tỉnh Phú Thọ “có mặt”.
Bị hại:
- Anh Dương Khánh D, sinh năm 2009; nơi thường trú: Thôn Đ, xã M, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở hiện tại: Thôn T, xã B, tỉnh Phú Thọ “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- Anh Lò Văn T1, sinh năm 2006; địa chỉ: Bản Đ, xã M, tỉnh Lai Châu “vắng mặt”.
- Anh Trần Tuấn H2, sinh năm 2009; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, tỉnh Phú Thọ “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại Dương Khánh D: Ông Dương Văn N, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, tỉnh Tuyên Quang “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại Dương Khánh D: Bà Trần Bích H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T3 tỉnh Phú Thọ “có mặt”.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Tuấn H2: Bà Trương Thị H3, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, tỉnh Phú Thọ “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Tuấn H2: Bà Trần Bích H1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T3 tỉnh Phú Thọ “có mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Lâm Hồng H4, sinh năm 2001; địa chỉ: Xóm G, xã Đ, tỉnh Phú Thọ “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- Anh Lê Hữu T2, sinh năm 2008; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Phú Thọ “vắng mặt”.
Người đại diện hợp pháp của anh Lê Hữu T2: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Phú Thọ “vắng mặt”.
Đại diện Đoàn thanh niên xã Đ, tỉnh Phú Thọ:
Ông Lưu Xuân D1, Bí thư Đoàn thanh niên xã Đ, tỉnh Phú Thọ “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 19.5 - 13.6.2025, Bằng Quang Khải sinh ngày 28/11/2007 (17 tuổi 5 tháng 21 ngày), ở xã Đ, tỉnh Phú Thọ, có hành vi thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1:
- Khoảng 23h30 ngày 18/5/2025, Bằng Q đưa anh Dương Khánh D sinh năm 2009, trú tại xã M, tỉnh Tuyên Quang và anh Lò Văn T1 sinh năm 2006, trú tại xã M, tỉnh Lai Châu đến nhà Lê Hữu T2 sinh năm 2008 ở thôn T, xã Đ, tỉnh Phú Thọ, hỏi ngủ nhờ, T2 đồng ý. K, anh D và anh T1 đi vào phòng ngủ của T2 để ngủ, còn T2 chơi điện tử ở phòng khách.
Khoảng 2h ngày 19/5/2025, K tỉnh ngủ, nhìn thấy trên người anh D có 01 chiếc túi đeo chéo, nên nảy sinh ý định trộm cắp tiền của anh D để tiêu sài. Tiếp đó K kéo khóa túi ra, lấy hết số tiền có trong túi, đúc vào túi quần bên phải rồi đi ra phòng khách.
Tại phòng khách, K bảo T2 “tao vừa lấy tiền của D”, thì T2 nói “chia cho tao ít”. Khải kiểm đếm thì thấy toàn bộ số tiền vừa trộm cắp được có 1.235.000đ, K cho T2 435.000đ, K giữ lại 800.000đ, rồi ngồi chơi ở phòng khách cùng T2.
- Khoảng 3h cùng ngày 19/5/2025, K nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại di động (ĐTDĐ) của anh T1 (K không bàn bạc, trao đổi trước với T2). Sau đó K một mình đi vào phòng ngủ, lục soát, trộm cắp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng của anh T1 để ở đầu giường rồi đi ra ngoài phòng khách ngồi chơi với T2 (T2 đang đánh điện tử không biết K trộm cắp ĐTDĐ của anh T1). Ngồi chơi một lúc, K bảo T2 đưa cho K 35.000đ tiền lẻ để lấy tiền đi taxi, T2 đưa trả cho K 35.000đ, K đi ra ngoài và gọi taxi đi chơi. Số tiền trộm cắp của anh D, K đã tiêu sài cá nhân hết. Số tiền T2 được K đưa là 400.000đ, T2 đã tiêu sài cá nhân hết 135.000đ.
Khoảng 13h cùng ngày 19/5/2025, K gọi điện nhờ và được anh Trần Văn L sinh năm 2008, anh Lý Văn Đ sinh năm 2009 đều ở xã Đ, tỉnh Phú Thọ, đồng ý đưa K đến cửa hàng điện thoại của anh Lâm Hồng H4 sinh năm 2001 ở xã Đ, tỉnh Phú Thọ, bán cho anh H4 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 Plus với giá 700.000₫ (anh L và anh Đ không biết ĐTDĐ là tài sản do trộm cắp mà có). Số tiền bán ĐTDĐ K đã chi tiêu cá nhân hết).
Ngày 19/5/2025, anh Dương Khánh D, Lò Văn T1 có đơn tố giác tội phạm.
- Về thu giữ vật chứng:
Anh Lâm Hồng H4 đã giao nộp CQĐT 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng.
Anh Lê Hữu T2 đã giao nộp CQĐT số tiền 265.000đ.
Vụ thứ 2: Khoảng 0h30 ngày 13/6/2025, Bằng Q, dùng 01 đèn pin màu đen để soi đường, đi bộ đến nhà anh Trần Tuấn H2 sinh ngày 16/12/2009 (15 tuổi 5 tháng 28 ngày), trú tại thôn P, xã Đ, tỉnh Phú Thọ (là hàng xóm) để trộm cắp tài sản.
Khải trèo qua bờ tường rào, đi đến cửa gỗ gian nhà ở giữa, dùng tay cạy then cửa, mở cửa đi vào nhà, đến đầu giường ngủ trộm cắp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone XS màu trắng của anh H2 (ĐTDĐ đang cắm sạc điện), đúc vào túi quần rồi đi về nhà, cất dấu ĐTDĐ vào bên trong lõi đệm đang trải trên giường và đi ngủ.
- Ngày 13/6/2025, anh Trần Tuấn H2 có đơn tố giác tội phạm.
- Về thu giữ vật chứng:
Bằng Quang K giao nộp cơ quan điều tra 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng; 01 chiếc đèn pin màu đen đã cũ.
- Về định giá tài sản: Ngày 30/5/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus, loại 64 GB có trị giá là 1.500.000đ.
Ngày 25/6/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu trắng có trị giá là 3.500.000₫.
Tại cơ quan điều tra Bằng Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSKV9 ngày 09 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú Thọ truy tố bị cáo Bằng Quang K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bằng Quang K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 91, 101 Bộ luật hình sự; Điều 119, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Bằng Quang K từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 chiếc đèn pin màu đen đã cũ để bán phát mại sung ngân sách Nhà nước.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí về tội danh, điều luật Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt mức án nhẹ nhất cho bị cáo vì bị cáo là người chưa thành niên nhận thức pháp luật còn hạn chế.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại đề nghị Hội đồng xét xử nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Đại diện Đ1 thanh niên xã Đ có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất vì bị cáo là người chưa thành niên nhận thức pháp luật còn hạn chế.
Bị cáo không có tranh luận và đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú Thọ), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Bằng Quang K thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:
Ngày 19/5/2025 và ngày 13/6/2025, Bằng Quang Khải sinh ngày 28/11/2007 (17 tuổi 5 tháng 21 ngày), ở xã Đ, tỉnh Phú Thọ, có hành vi trộm cắp tài sản 02 lần, cụ thể:
- Ngày 19/5/2025, K có hành vi trộm cắp của anh Dương Khánh D số tiền 1.235.000đ; trộm cắp của anh Lò Văn T1 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 có trị giá 1.500.000đ; Tổng trị giá = 2.735.000đ.
- Ngày 13/6/2025, K có hành vi trộm cắp của anh Trần Tuấn H2 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone XS có trị giá 3.500.000đ. Tổng trị giá tài sản trộm cắp 02 lần là 6.235.000₫.
[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Bằng Quang K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...”
[4] Xét tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo Bằng Quang K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân ảnh hưởng tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do vậy cần xử phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng chống tội phạm nói chung.
Khi quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại và được các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt, xử lý về vật chứng là phù hợp theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với Lê Hữu T2 biết rõ việc K trộm cắp 1.235.000đ và T2 được K cho 400.000đ. Do hành vi trộm cắp tiền (1.235.000đ) của K không cấu thành tội phạm, nên hành vi của T2 không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với anh Lâm Hồng H4: Khi mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của K, không biết là tài sản do phạm tội mà có, nên cơ quan điều tra không đề cập việc xử lý là có căn cứ.
Đối với Trần Văn L và Lý Văn Đ không biết điện thoại di động mang bán là do K trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập việc xử lý là có căn cứ.
[6] Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra anh Lâm Hồng H4 đã giao nộp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng và cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lò Văn T1, anh T1 không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không xem xét.
Anh Lê Hữu T2 đã giao nộp tại cơ quan điều tra 265.000đ, cơ quan điều tra đã trả cho anh D 265.000đ và anh T2 trả cho K 135.000đ. K đã bồi thường cho anh D tổng số tiền 970.000₫ (135.000₫ là tiền T2 đã trả lại cho K + 835.000đ của K), anh D đã nhận đủ 1.235.000đ không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không xem xét.
Bị cáo K đã bồi thường cho anh Lâm Hồng H4 700.000đ và anh H4 không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không xem xét.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Trần Tuấn H2 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone XS max màu trắng, anh H2 không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không xem xét.
Đối với 01 đèn pin bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo Bằng Quang K phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Bằng Quang K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 91; 101 Bộ luật hình sự; Điều 119, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Bằng Quang Khải 07 (B1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Tịch thu 01 đèn pin để bán phát mại sung ngân sách Nhà nước. Vật chứng trên (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Công an tỉnh P với Phòng thi hành án dân sự khu vực 9-Phú Thọ).
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bằng Quang K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Văn Thái |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bằng Quang K phạm tội Trộm cắp tài sản
