|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày 02 tháng 12 năm 2025. |
——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Liêm và ông Liêu Khăng.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - An Giang.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Đoàn Tuấn N, sinh ngày 01/01/1995. Nơi cư trú: ấp T, xã V, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn D, sinh năm 1967 và bà Lê Thị Kim N1, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2025, đến ngày 28/7/2025 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Ông Trần Minh H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: số E, Nguyễn Thái H1, phường R, tỉnh An Giang (vắng mặt)
- 2/ Anh Đoàn Tuấn A, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp T, xã V, tỉnh An Giang (có mặt)
Người làm chứng: Ông Khưu Trần Võ N2 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 18 tháng 7 năm 2025, Lực lượng Phòng C - Công an tỉnh A tuần tra kiểm soát tại khu vực ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang, dừng phương tiện mô tô biển số 68X1-539.88 do Đoàn Tuấn N điều khiển, phát hiện trong túi quần của N có đoạn ống hút nhựa màu đỏ, được hàn kín hai đầu (nghi là ma túy đá), Lực lượng mời N về trụ sở Công an xã T làm việc. Tại đây, N khai nhận: khoảng 16 giờ ngày 18 tháng 7 năm 2025, N điều khiển xe mô tô biển số 68X1-539.88 đến khu vực xã T, tỉnh An Giang, gặp Trần Hoàng A1 mua 200.000 đồng ma túy để sử dụng. Sau đó, N cất giấu ma túy vào túi quần và điều khiển xe trên đường về nhà thì bị lực lượng phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: xe mô tô biển số 68X1-539.88.
Tại Kết luận giám định số 90 ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: chất tinh thể rắn chứa trong một đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2975 gam.
Ngày 27/7/2025, Đoàn Tuấn N bị khởi tố, điều tra.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSKV10, ngày 12/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang truy tố bị cáo Đoàn Tuấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Tuấn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Minh H, Đoàn Tuấn A (anh ruột của N); người làm chứng Khưu Trần Võ N2 trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Năm 2024, Tuấn A mua xe mô tô biển số 68X1-539.88 do H đứng tên sở hữu, với giá 13.000.000 đồng. Ngày 18/7/2025, N mượn xe của Tuấn A để sử dụng vào công việc riêng, không biết N đi mua ma túy nên xin nhận lại xe.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn N mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo Đoàn Tuấn N nhất trí với bản luận tội, không bào chữa và tranh luận gì khác. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Minh H và người làm chứng Khưu Trần Võ N2 đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 18 tháng 7 năm 2025, tại ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang, Đoàn Tuấn N đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,2975 gam Methamphetamine để sử dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025 có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo xuất thân thành phần lao động, trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm để thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét thấy: Mặc dù bị cáo có tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nhưng về tính chất vụ án là nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Đối với hành vi Đoàn Tuấn N điều khiển xe mô tô 68X1-539.88 tham gia giao thông mà trong cơ thể có chất ma túy, không có giấy chứng nhận đăng ký xe, không có giấy phép lái xe là vi phạm pháp luật nên ngày 03/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A đã ban hành công văn đề nghị Phòng C - Công an tỉnh A xử lý N theo quy định.
Đối với Trần Hoàng A1 có liên quan đến hành vi của bị cáo Đoàn Tuấn N tàng trữ 0,2975 gam Methamphetamine, quá trình điều tra Hoàng A1 bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 68X1-539.88 của Đoàn Tuấn A không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên đề nghị trả lại cho Tuấn A. Đối với vật chứng là ma túy cấm lưu hành nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Tuấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn N 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam (ngày 19/7/2025).
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong, dán kín; có đóng dấu tròn, màu đỏ của phòng K Công an tỉnh A và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Hoàng N3 (Giám định viên), Trần Văn A2 (Người chứng kiến) có ghi dòng chữ: Niêm phong mẫu vật vụ số: 1046/2025 ngày 24/7/2025.
Trả lại cho Đoàn Tuấn A 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh - bạc, biển số 68X1-539.88, số máy: JA39E0820342, số khung: RLHJA3908HY840210, đã qua sử dụng (đặc điểm theo như Biên bản giao, nhận vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - An Giang)
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Tuấn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Tuấn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
