|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày: 26-9-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ – Giáo viên (Hưu trí)
Ông Nguyễn Công Chi – Giáo viên (Hưu trí)
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Lê Quang Anh K; Sinh ngày: 09/5/2008 tại: thành phố Đà Nẵng (Thời điểm phạm tội 16 tuổi 05 tháng 04 ngày); Nơi thường trú: K148/9 L, tổ B, P. H, TP .; Nơi cư trú: K T, P. T, TP .; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Lê Quang H; Mẹ: Phan Thị T; Tiền án: Chưa.
Tiền sự: Ngày 19/9/2024, bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, TP . áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định số 58/2024/QĐ-TA trong thời hạn 15 tháng.
Nhân thân:
- - Ngày 12/7/2023 bị UBND phường H, quận L, TP Đà Nẵng (cũ) ra Quyết định số 341 áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
- - Ngày 28/12/2023 bị Công an quận L, TP Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khi thô sơ, công cụ hỗ trợ.
- - Ngày 04/8/2025 bị Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng xét xử 02 năm tù tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác. Có mặt.
2/ Đặng Duy H1; Sinh ngày: 13/7/2008 tại: thành phố Đà Nẵng (Thời điểm phạm tội 16 tuổi 03 tháng); Nơi cư trú: K N, tổ C, phường L, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Đầu bếp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Đặng Duy T1; Mẹ: Trần Thị M; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Quang Anh K: Ông Lê Quang H, sinh năm 1987 và bà Phan Thị T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: K T, TP Đà Nẵng. Bà T có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Quang Anh K: Bà Lê Thị Hồng T2 - Luật sư Trợ giúp pháp lý của Trung tâm T6.Có mặt.
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Duy H1: Ông Đặng Duy T1, sinh năm 1970 và bà Trần Thị M, sinh năm 1973; Nơi cư trú: K N, tổ C phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (nay là phường L, TP Đà Nẵng). Bà M có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Duy H1: Bà Nguyễn Thị O - Luật sư Trợ giúp pháp lý của Trung tâm T6. Có mặt.
* Bị hại: Ông Nguyễn M1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: C L, phường H, quận H, TP Đà Nẵng (nay là phường H, TP Đà Nẵng). Vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :
- - Anh Trần L, sinh ngày 31/3/2009; nơi cư trú: Tổ C phường H, quận L, TP Đà Nẵng (nay là phường H, TP Đà Nẵng); Có mặt.
Đại diện hợp pháp: Ông Trần Đình L1, sinh năm 1979 và bà Võ Thị Kim L2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ C phường H, quận L, TP Đà Nẵng (nay là phường H, TP Đà Nẵng); Ông L1 có mặt.
- - Anh Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 17/10/2009; Nơi cư trú: 1 Mẹ S, phường H, quận L, TP Đà Nẵng (nay là phường H, TP Đà Nẵng). Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1983 và bà Lương Thị Kim N, sinh năm 1984; Nơi cư trú: 1 Mẹ S, phường H, quận L, TP Đà Nẵng (nay là phường H, TP Đà Nẵng); Vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Sư K2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng (nay là phường L, TP Đà Nẵng); Vắng mặt.
- - Anh Lê Quang T3, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Tổ A phường K, quận N, TP Đà Nẵng (nay là phường N, TP Đà Nẵng); Vắng mặt.
- - Ông Nguyễn T4, sinh năm 1956; Nơi cư trú: C L, phường H, quận H, TP Đà Nẵng (nay là phường H, TP Đà Nẵng); Vắng mặt.
- - Bà Lương Thị Kim N, sinh năm 1984; Nơi cư trú: 1 Mẹ S, phường H, quận L, TP Đà Nẵng (nay là phường H, TP Đà Nẵng). Vắng mặt.
- - Ông Trần Đình L1, sinh năm 1979; nơi cư trú : Tổ C phường H, quận L, TP Đà Nẵng (nay là phường H, TP Đà Nẵng). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 13/10/2024, Lê Quang Anh K cùng Đặng Duy H1, Trần L (sinh ngày: 31/3/2009) và Nguyễn Đăng K1 (sinh ngày: 17/10/2009) ngồi uống nước tại quán V thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (nay là phường L, thành phố Đà Nẵng). Lúc này, L rủ cả nhóm đi xã H (nay là phường H) tìm kiếm xe mô tô để trộm cắp thì H1, K và K1 đồng ý. L chở K trên xe mô tô Wave Alpha màu trắng, không gắn biển số, K1 chở H1 trên xe mô tô Winner màu đen, biển kiểm soát 43AF – 01767 lưu thông lên xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (nay là phường H). Khi đi đến khu vực đường A thuộc thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (nay là Phường H, thành phố Đà Nẵng) thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 43C1 - 966.28 của anh Nguyễn M1 đang dựng bên đường, trên xe còn gắn chìa khóa, không có người trông coi nên K1 chở H1 tiếp cận xe mô tô, H1 xuống xe rồi đến ngồi lên xe của anh M1 bật chìa khoá xe nổ máy bỏ chạy còn K1, L và K điều khiển xe chạy theo sau. Khi nhóm của L vừa điều khiển xe chạy đi thì anh M1 và anh Lê Quang T3 (là bạn anh M1) đang đi từ trong bãi mía ra phát hiện xe mô tô của mình bị trộm mất nên tri hô đuổi theo nhưng không kịp nên anh M1 gọi điện cho anh Nguyễn Sư K2 thông báo về việc bị một nhóm thanh niên lấy trộm xe mô tô hiện đang điều khiển xe của anh M1 về hướng xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng và nhờ anh K2 chặn đường nhóm thanh niên này. Anh K2 nhờ anh Q (không rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng. Anh K2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu đen – bạc, biển kiểm soát 43K1 – 586.18 chở anh Q đến đường ADB5 đoạn qua thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện K cùng H1, Long K3 đang điều khiển xe trên đường tẩu thoát, anh K2 liền dựng xe mô tô của mình ngang đường, trên xe vẫn còn chìa khóa xe đang nổ máy nhằm chặn nhóm của K.
K cùng H1, Long K3 phát hiện anh K2 và anh Q đang đứng chặn giữa đường. L chở K tăng ga chạy vượt qua. H1 quay đầu xe chạy về hướng xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng rồi trốn vào một bãi đất. K3 tăng ga bỏ chạy nhưng bị anh K2 và anh Q chặn lại được. Trong lúc bị anh K2 và anh Q đứng trước đầu xe mô tô của K3 để cho K3 không lấy được xe, thì K3 lợi dụng sơ hở anh K2 và anh Q không để ý đến mình nên bỏ chạy đến vị trí xe Mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu đen – bạc, biển kiểm soát 43K1 – 586.18 của anh K2 rồi lên xe, xe đang nổ máy điều khiển xe tẩu thoát còn xe Mô tô Winner màu đen, biển kiểm soát 43AF – 01767 mà K3 điều khiển để lại hiện trường. Sau đó, L, K, K3 và H1 lần lượt quay về quán V. Cả nhóm để lại xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển kiểm soát 43C1 – 96628 và xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 43K1 – 568.18 tại quán V rồi về nhà. Đến tối cùng ngày, K3 và L đem 02 xe mô tô trên giao nộp cho Công an xã H và cả hai đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐG ngày 15/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện H kết luận:
- - 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển số 43C1 – 966.28 có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 8.000.000 đồng.
- - 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu xám – đen, biển số 43K1 – 586.18 có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 8.000.000 đồng.
* Tang vật tạm giữ:
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner, màu đen, biển kiểm soát 43AF – 017.67.
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu xám – đen, biển kiểm soát 43K1 – 586.18.
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển kiểm soát 43C1
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, số khung RLHJA 3931RY092931, số máy JA70E0397709 – 96628.
* Về dân sự:
Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và nhận bồi thường số tiền 1.000.000 đồng từ gia đình bị cáo, bị hại anh Nguyễn M1 không yêu cầu gì thêm. Anh Nguyễn Sư K2 đã nhận lại tài sản, hiện anh K2 không yêu cầu gì thêm.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 26/CT-VKS ngày 12/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Lê Quang Anh K và Đặng Duy H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của từng bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; Xử phạt bị cáo Lê Quang Anh K từ 06 – 09 tháng tù.
Căn cứ Điều 56 BLHS, tổng hợp với Bản án số: 13/2025/HSST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng, buộc bị cáo phải chấp hành mức hình phạt chung cho cả hai bản án.
- - Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 118, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; Xử phạt bị cáo Đặng Duy H1 từ 06 - 09 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an T7 nhận được Quyết định thi hành án.
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Quang Anh K và Đặng Duy H1 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và có cơ hội được làm lại cuộc đời.
Đại diện hợp pháp của các bị cáo Lê Quang Anh K và Đặng Duy H1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo tuổi đời còn trẻ, suy nghĩ và hành động chưa chín chắn, bốc đồng, đề nghị xem xét xử cho các bị cáo một mức hình phạt thấp nhất; Riêng đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Duy H1 xin HĐXX tạo điều kiện để bị cáo được tiếp tục ở nhà với gia đình.
Những người bào chữa cho các bị cáo đều thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng đã truy tố đối với các bị cáo, thống nhất cùng quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người bào chữa đề nghị xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi phạm tội các bị cáo đều chưa đủ tuổi thành niên nên khả năng nhận thức pháp luật còn rất hạn chế; Các bị cáo đều là đồng phạm giúp sức giản đơn và chưa gây hậu quả gì nghiêm trọng.
Cuối cùng những người bào chữa đề nghị xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp thấp nhất, để đảm bảo lợi ích tốt nhất, nhằm giáo dục các bị cáo sửa chữa sai lầm, giúp đỡ các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Riêng Luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Duy H1 đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T7; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Quang Anh K và Đặng Duy H1:
Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa, lời khai của bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 13/10/2024, tại đường A thuộc thôn A, phường H, thành phố Đà Nẵng, Lê Quang Anh K và Đặng Duy H1 có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển số 43C1 – 966.28 của anh Nguyễn M1 có trị giá là 8.000.000 đồng.
Hành vi trên của các bị cáo Lê Quang A K và Đặng Duy H1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ, vai trò phạm tội, hành vi của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự chuẩn bị, phân công nhiệm vụ. Mặc dù hiểu rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển số 43C1 – 966.28 của anh Nguyễn M1 có trị giá là 8.000.000 đồng. Với lỗi cố ý trực tiếp và vì động cơ tư lợi, các bị cáo đã xâm phạm tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó đối với các bị cáo cần phải xử phạt một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đủ sức giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với bị cáo Lê Quang Anh K: Trong vụ án này bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, sau khi được Trần L rủ rê thì bị cáo đồng ý đi tìm xe trộm cắp. Ngoài ra, bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu; Ngày 19/9/2024, bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, TP. áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà đến ngày 13/10/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nói trên; Ngày 04/8/2025 bị cáo bị Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng xét xử 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hành vi của bị cáo là coi thường pháp luật. Do đó, mức án dành cho bị cáo phải nghiêm, tương xứng, tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với bị cáo Đặng Duy H1: Sau khi được L rủ đi tìm xe mô tô để trộm cắp lấy tiền tiêu xài thì bị cáo lập tức đồng ý, là đồng phạm giúp sức vô cùng tích cực. Khi phát hiện tài sản, bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, đến ngồi lên xe của anh M1 bật chìa khoá xe nổ máy bỏ chạy. Đối với bị cáo cần phải xử phạt một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lê Quang Anh K và Đặng Duy H1 đã có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và được bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng.
Xét các bị cáo khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, còn hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Luật tư pháp và người chưa thành niên. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến tính chất, mức độ, vai trò phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức độ đồng phạm của từng bị cáo.
Riêng bị cáo H1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp làm đầu bếp ổn định. Tại phiên tòa bị cáo xuất trình đơn xác nhận của địa phương thể hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ba mất khả năng lao động, bị cáo đi làm phụ mẹ chăm ba bị bệnh. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự; có đầy đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 03/2025/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo; đồng thời thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Ngày 21/02/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 171/QĐ-ĐCSHS, trả lại tài sản cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Sư K2 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xám – đen, biển kiểm soát 43K1 - 586.18, trả lại cho ông Nguyễn T4 (cha ruột Nguyễn M1) 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển kiểm soát 43C1 – 96628, trả lại cho bà Lương Thị Kim N (mẹ ruột Nguyễn Đăng K1) 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, số khung RLHJA3931RY092931, số máy JA70E0397709, trả lại cho ông Trần Đình L1 (cha ruột của Trần L) 01 xe mô tô hiệu Honda Winner, màu đen, biển kiểm soát 43AF – 017.67 là có căn cứ, HĐXX không xem xét.
[6] Về các vấn đề khác trong vụ án:
- - Đối với Nguyễn Đăng K1 (sinh ngày: 17/10/2009) và Trần L (sinh ngày: 31/3/2009) tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn M1 là ngày 13/10/2024 thì K1 14 tuổi 11 tháng 26 ngày; L chỉ mới 15 tuổi 06 tháng 12 ngày và khi K1 bị anh Nguyễn Sư K2 và anh Q phát hiện ngăn chặn về hành vi trộm cắp tài sản thì K1 đã lợi dụng lúc anh K2 và anh Q không để ý đến mình liền chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda Wave màu xám – đen, biển kiểm soát 43K1 – 586.18, có trị giá 8.000.000 đồng của anh K2 để làm phương tiện tẩu thoát. Hành vi này của Nguyễn Đăng K1 có dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, K1 và L chưa đủ 16 tuổi, hành vi của K1 và L thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không thuộc khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, CQĐT đã có công văn chuyển hồ sơ đến Phòng C Công an thành phố T7 để xử lý hành chính đối với K1 và L là có căn cứ, HĐXX không xem xét.
- - Đối với bà Lương Thị Kim N, chủ sở hữu xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, số khung RLHJA3931RY092931, số máy JA70E0397709 và ông Trần Đình L1 chủ sở hữu xe mô tô hiệu Honda Winner, màu đen, biển kiểm soát 43AF – 017.67. Khi K1 và L sử dụng xe này làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bà N và ông L1 không hề hay biết và hành vi giao xe của bà N ông L1 cho K1 và L sử dụng khi chưa đủ độ tuổi theo quy định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T7 chuyển hồ sơ vụ việc cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố T7 xem xét xử phạt hành chính theo quy định là có cơ sở, HĐXX không xem xét.
[7]. Về án phí: Các bị cáo Lê Quang Anh K và Đặng Duy H1 phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quang Anh K, Đặng Duy H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
II. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:
1/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS; Điều 119; Điều 179 Luật Tư pháp và người chưa thành niên.
Xử phạt: Lê Quang Anh K 09 (Chín) tháng tù.
Căn cứ: Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại Bản án số: 13/2025/HSST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng, buộc bị cáo phải chấp hành mức hình phạt 02 năm 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam ngày 21/01/2025.
2/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS
Xử phạt: Đặng Duy H1 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, 26/9/2025.
T5 giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường L (phường H, quận L cũ), thành phố Đà Năng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
III. Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lê Quang Anh K và Đặng Duy H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Quyền kháng cáo: Các bị cáo; đại diện hợp pháp của các bị cáo; người bào chữa của các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà Trần Nguyễn Thi Thi |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (criminal first instance)
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal First Instance)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quang Anh K và đồng phạm trộm cắp tài sản
