Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày 23-10 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Giang Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ. Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST - HS ngày 02 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 10/9/2003 tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu B, xã C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lưu Thị P; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Tháng 02/2023 nhập ngũ đóng quân tại Trung cấp 24 biên phòng, bộ đội biên phòng có địa chỉ ở tại S - B - Hà Nội. Đến 08/11/2024 xuất ngũ về địa phương;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2025 đến ngày 14/9/2025 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. (có mặt)

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1997 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: TDP Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Vũ Văn V, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: TDP Đ, xã B, tỉnh Phú Thọ

Bà Lưu Thị P, sinh năm 1979 (xin vắng mặt)

HKTT: Khu B, xã C, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc H là nhân viên làm thuê bán hoa quả tại cửa hàng Á1, có địa chỉ tại Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (hiện nay là thôn G, xã B, tỉnh Phú Thọ) do chị Nguyễn Thị Ngọc Á – sinh năm 1997 có Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã B, tỉnh Phú Thọ) làm chủ.

Trong thời gian làm thuê, H ăn ở sinh hoạt tại cửa hàng của chị Á nhưng không được giao quản lý các tài sản trong cửa hàng. Đến khoảng 02h50phút ngày 26/4/2025, lúc này H đi chơi về, mở cưa cuốn băng kim loại vào bên trong cửa hàng, thấy chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS: 19B1-277.69 của chị Á vẫn cắm chìa khoá xe tại ổ khoá. Quan sát không thấy có ai nên H nảy sinh ý định trộm căp chiếc xe mô tô nêu trên của chị Á. H dăt lùi chiếc xe mô tô trên ra khỏi quán rồi đóng cưa quán lại như cũ, sau đó ngồi lên xe mô tô nổ máy điều khiển đi đên quán K của anh Vũ Văn V – sinh năm: 1993, trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là tổ dân phố Đ ,xã B, tỉnh Phú Thọ) làm chủ. Do có mối quan hệ quen biết nên khi gặp anh V, H nói “cho em vay 4.000.000 đồng, em để chiếc xe ở đây làm tin, khoảng 2 hoặc 3 ngày em qua em lấy”, nghe vậy anh V hỏi H “xe của ai”, H nói dối “xe của em”, anh V hỏi tiếp “xe có giấy tơ không”, H nói “giấy tờ em để ở nhà, mai em về em cầm xuống cho” tin lời H nên anh V đồng ý và cho H vay số tiền 4.000.000đồng, Số tiền trên H đã tiêu sài cá nhân hết.

Đến khoảng 08h00' ngày 26/4/2025, chị Á phát hiện bị mất chiếc xe mô tô BKS: 19B1-277.69 nên đã kiểm tra Camera an ninh tại cửa hàng, thì phát hiện H lấy trộm chiếc xe mô tô nêu trên, chị Á đã yêu cầu H trả lại xe nhưng H không trả lại nên ngày 16/05/2025 chị Á đã làm đơn trình báo Cơ quan điều tra. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc xe mô tô BKS: 19B1-277.69 là do anh V tự nguyện nộp, để phục vụ điều tra. Tại Kết luận định giá tài sản số 45 ngày 03/6/2025, Hội đồng định giá tài sản huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc cũ kết luận: 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS:19B1-277.69 trị giá là: 8.833.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị Ngọc Á. Do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Á nhận lại, chị Á không yêu cầu đề nghị gì đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H.

Đối với anh Nguyễn Văn V1 là người cho Nguyễn Ngọc H vay số tiền 4.000.000 đồng và H để lại chiếc xe mô tô BKS: 19B1-277.69 để làm tin. Quá trình điều tra xác định anh V1 không biết chiếc xe mô tô trên do H phạm tội được mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh V1.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 4.000.000đồng mà bị cáo H đã vay của anh V1. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H đã nhờ mẹ đẻ là bà Lưu Thị Phương hoàn T1 đủ cho anh V1 số tiền 4.000.000đồng nêu trên, anh V1 nhận đủ không yêu cầu đề nghị gì khác; bà P cũng không đề nghị H phải hoàn trả lại số tiền 4.000.000đồng đã bồi thường thay.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 40/CT – VKSKV8 ngày 30 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ truy tố Nguyễn Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng đến 18 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như mô tả trong bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, phù hợp chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02h50phút ngày 16/5/2025, tại cửa hàng Á1 có địa chỉ tại thôn G, xã B, tỉnh Phú Thọ của chị Nguyễn Thị Ngọc Á. Nguyễn Ngọc H có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS: 19B1-277.69 có trị giá là 8.833.000 đồng của chị Á. Hành vi nêu trên của Nguyễn Ngọc H cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự cụ thể:

Khoản 1 Điều 173 quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.".

[ 3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[ 4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã nhờ mẹ đẻ bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian phục vụ trong Q. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khởi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á là chủ sở hữu hợp pháp. Chị Á nhận lại, không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo H đã vay của anh V1. Quá trình giải quyết vụ án bà Lưu Thị Phương M đẻ bị cáo đã hoàn trả đủ cho anh V1 số tiền 4.000.000 đồng nêu trên, anh V1 nhận đủ không yêu cầu đề nghị gì khác; Bà P cũng không đề nghị H phải hoàn trả lại số tiền 4.000.000 đồng. Nên không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc H 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 8 – Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
  • - UBND xã Chân Mộng
  • - Bị cáo; Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Văn Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 23/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger