Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9- PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày 19 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Quý.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Kim Dung - Giáo viên nghỉ hưu
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vân Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 9- Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Phùng Văn L, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2008 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 10 tháng 16 ngày) tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cũ (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn L1 và con bà Đinh Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/6/2025, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2- Công an tỉnh P, có mặt.
  2. Đinh Việt T1, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 07 tháng 00 ngày) tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cũ (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Nơi cư trú: Thôn I, xã T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công D và con bà Đinh Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/6/2025, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2- Công an tỉnh P, có mặt.
  3. Trần Hùng T2, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2008 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 06 tháng 27 ngày) tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cũ (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Nơi cư trú: Thôn A, xã T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hùng T3 và con bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/6/2025, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2- Công an tỉnh P, có mặt.

-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phùng Văn L: Ông Phùng Văn L1, sinh năm 1978; bà Đinh Thị T, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Phú Thọ, có mặt.

-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đinh Việt T1: Ông Đinh Công D, sinh năm 1986; bà Đinh Thị H sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn I, xã T, tỉnh Phú Thọ, có mặt.

-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Hùng T2: Ông Trần Hùng T3, sinh năm 1981; bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn A, xã T, tỉnh Phú Thọ, có mặt bà H1, vắng mặt ông T2.

-Người bào chữa cho các bị cáo Phùng Văn L, Đinh Việt T1, Trần Hùng T2: Bà Trần Thị N, sinh năm 1986. Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước số 2- Phú Thọ, có mặt.

- Bị hại: Phùng Hải D1, sinh ngày 22/6/2008: Địa chỉ: Xóm Q, xã X, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Phùng Văn X, sinh năm 1984; bà Hà Thị T4, sinh năm 1990; Địa chỉ: Xóm Q, xã X, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Bà Phan Thị Kim L2, sinh năm 1983. Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước số 2- Phú Thọ, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Cháu Nguyễn Quang M, sinh ngày 17/3/2010; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường V, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Quang M: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1980; bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường V, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.

*Đại diện đoàn thanh niên nơi các bị cáo cư trú: Ông Phạm Hồng M1 - Bí thư Đoàn thanh niên xã T, tỉnh Phú Thọ, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/5/2025, Phùng Văn L cần liên hệ bán một xe mô tô Honda Wave màu trắng, gắn BKS: 22B2-744.28 của cháu Nguyễn Quang M nên đã liên hệ với anh Ngô Trung D2 để tìm người mua xe. Thông qua anh Ngô Trung D2, Phùng Văn L biết và trao đổi mua bán xe mô tô với anh Phùng Hải D1, giá mua bán xe hai bên thỏa thuận là 3.500.000 đồng, trong đó 3.000.000 đồng là tiền bán xe, 500.000 đồng là tiền hoa hồng của L nếu bán được xe cho M. Khoảng 12h00 ngày 30/5/2025, Phùng Văn L và Phùng Hải D1 gặp nhau tại khu vực đình T, phường K, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường V, tỉnh Phú Thọ) để giao xe. Sau đó, Phùng Văn L gọi cho bạn là Nguyễn Quang M là chủ sở hữu chiếc xe mô tô gắn BKS: 22B2-744.28 đến giao xe cho Phùng H. Tại đây, M đồng ý bán xe cho D1 với giá 2.950.000 đồng nên Phùng Hải D1 chuyển khoản số tiền 2.950.000đ vào số tài khoản 0868.099.783 của M mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q và chuyển khoản số tiền 500.000đồng là tiền hoa hồng cho Phùng Văn L vào số tài khoản 1088.4010.26 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1, chủ tài khoản Nguyễn Đức H4. Khi Nguyễn Quang M giao xe mô tô cho Phùng Hải D1 thì xe không gắn gương chiếu hậu, không gắn hai bên cánh yếm và hai bên ốp sườn xe.

Ngày 02/6/2025, Phùng Hải D1 nhắn tin cho Phùng Văn L yêu cầu lắp yếm xe, ốp sườn xe cho D1 và hẹn đến chiều ngày 03/6/2025 sẽ gặp nhau. Đến chiều ngày 03/6/2025, Phùng Văn L gửi vị trí và hẹn gặp Phùng Hải D1 đến thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn A, xã T, tỉnh Phú Thọ). Khoảng 17h00 cùng ngày, Phùng H điều khiển xe mô tô BKS: 22B2-744.28 chở Phùng Duy T5, sinh ngày 05/5/2009, trú tại xóm Q, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xóm Q, xã X, tỉnh Phú Thọ) đến điểm hẹn với Phùng Văn L. Khi đến nơi, Phùng Hải D1 và Phùng Duy T5 gặp Phùng Văn L cùng một người tên là C (C là người L gặp ở đường và xin đi nhờ đến điểm hẹn, không rõ lý lịch cụ thể). Sau đó, Phùng Duy T5 và người nam giới tên là C ở lại còn Phùng Văn L và Phùng Hải D1 điều khiển xe mô tô đi đón bạn của L và đi lấy yếm xe để lắp vào xe. Sau khi Phùng Văn L và Phùng Hải D1 đi khỏi thì C đi đâu không rõ còn Phùng Duy T5 đi vào quán nước ngồi chờ.

Phùng Hải D1 điều khiển xe mô tô gắn BKS: 22B2-744.28 đến quán I ở xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ) đón hai người bạn của L là Đinh Việt T1, sinh ngày 03/11/2007, trú tại thôn I, xã H, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn I, xã T, tỉnh Phú Thọ) và Trần Hùng T2, sinh ngày 07/11/2008, trú tại thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn A, xã T, tỉnh Phú Thọ). Sau đó, Phùng Hải D1 điều khiển xe mô tô chở Phùng Văn L; Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 đi lấy yếm xe theo chỉ dẫn của Phùng Văn L. Khi đến nhà văn hóa thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn A, xã T, tỉnh Phú Thọ) thì Phùng Văn L nói với Đinh Việt T1 là bản thân đã bán cho Phùng Hải D1 chiếc xe mô tô BKS: 22B2-744.28, sau đó L và T1 cùng nhau bàn bạc, thống nhất sẽ rủ anh Phùng Hải D1 ra chỗ vắng người để cướp lại xe. Khi Phùng Văn L và Đinh Việt T1 cùng nhau bàn bạc, thống nhất và chọn địa điểm để cướp lại xe mô tô của anh Phùng Hải D1 thì Trần Hùng T2 đứng bên cạnh, nghe được và đồng ý tham gia. Khoảng 22h00 cùng ngày, Phùng Văn L bảo anh Phùng Hải D1 điều khiển xe mô tô chở L; T1 và T2 đi đến khu vực tổ dân phố B, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ). Trên đường đi, Phùng Văn L và Đinh Việt T1 sử dụng ứng dụng Messenger trên điện thoại di động nhắn tin, trao đổi với nhau về việc khi nào đến đoạn đường vắng người sẽ thực hiện hành vi cướp tài sản (cướp xe mô tô) của anh Phùng Hải D1. Đinh Việt T1 đưa điện thoại có chứa đoạn hội thoại trao đổi với Phùng Văn L cho Trần Hùng T2 đọc nên T2 đồng ý. Khi đến cánh đồng gần khu vực đồi trại gà thuộc thôn B, thị trấn H (nay là thôn B, xã T) thì T1 bảo anh D1 dừng xe lại nhưng anh D1 không dừng nên L dùng tay phải tắt máy, rút chìa khóa xe. Sau khi dừng xe, L, T1 và T2 xuống xe, T1 dùng tay phải đấm một phát vào ngực của D1 nên D1 khóc, xin tha và hô hào thì T2 dùng tay đấm một phát vào lưng D1 và bảo D1 im lặng. Anh Phùng Hải D1 tiếp tục gào khóc, không xuống xe nên L nói “hay là em đưa anh con dao” với mục đích đe dọa D1. Tiếp theo, Đinh Việt T1 dùng hai tay ôm vào người anh D1 còn T2 và L cạy bàn tay của anh D1 đang bám ở xe rồi lôi anh D1 ra khỏi xe để cướp xe của anh D1. Sau khi cướp được xe mô tô của anh D1, Phùng Văn L điều khiển xe mô tô chở T1 và T2 về quán I chơi, còn L điều khiển xe mô tô đi xã B chơi. Sau khi bị cướp tài sản, anh Phùng Hải D1 đến Công an thị trấn H trình báo. Sáng ngày 04/6/2025, Phùng Văn L gọi điện thông qua ứng dụng M2 cho Nguyễn Quang M và quay cho M xem chiếc mô tô gắn BKS: 22B2-744.28 dựng ở sân. L nói với M “tối qua vừa cướp”. Do nghi ngờ Phùng Văn L có hành vi cướp tài sản nên ngày 04/6/2025, Nguyễn Quang M tự nguyện đến Cơ quan Công an trình báo.

Sau khi tiếp nhận tố giác của anh Phùng Hải D1, Công an thị trấn H đã báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh V tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án đồng thời xem xét dấu vết trên thân thể của anh Phùng Hải D1, kết quả không phát hiện thấy có dấu vết thương tích gì. Ngày 02/7/2025, anh Phùng Hải D1 có đơn từ chối giám định thương tích.

Ngày 05/6/2025, Phùng Văn L đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô Honda Wave gắn BKS: 22B2-744.28 là tài sản L chiếm đoạt được của Phùng Hải D1.

Ngày 06/6/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V tiến hành khám xét nơi ở của Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2. Kết quả không phát hiện công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 22/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “01 xe mô tô BKS: 22B2-744.28, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, sơn màu Trắng - đen, tình trạng: xe cũ đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 6 năm 2025 có giá trị 1.000.000 đồng”.

Ngày 24/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P có Quyết định trưng cầu giám định xác định số khung, số máy nguyên thủy đối với vật chứng của vụ án là 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, gắn BKS: 22B2-744.28. Tại bản kết luận giám định số 969/KL-KTHS ngày 30/7/2025 của Phòng K - Công an tỉnh P xác định “số khung của xe máy không bị tẩy xóa, sửa chữa, số khung nguyên thủy là: RLHHC1202BY414561, số máy đã bị tẩy xóa bằng phương pháp cơ học, không đọc được các ký tự bằng mắt thường, qua giám định xác định được số nguyên thủy là: HC12E..., vị trí dấu không xác định được nội dung”.

Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh P đã tiến hành tra cứu thông tin phương tiện xác định người đứng tên đăng ký xe đối với chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave, số khung: RLHHC1202BY414561, số máy HC12E... là Nguyễn Quang H5, sinh năm 1994, địa chỉ: xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương, nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng, biển số xe đăng ký là 34B1- 813.95. Tiến hành làm việc, ghi lời khai của anh Nguyễn Quang H5 xác định chiếc xe máy trên anh H5 mua mới từ năm 2012, sử dụng để đi lại và làm mất giấy đăng ký xe. Sau đó, do không còn nhu cầu sử dụng đến năm 2019, anh H5 đã bán chiếc xe máy trên, do đã lâu nên anh H5 không nhớ bán cho ai, ở đâu. Tiến hành tra cứu thông tin vật chứng không có thông tin vật chứng liên quan trong các vụ việc, vụ án khác. Tiến hành xác minh về BKS: 22B2- 744.28 xác định biển số xe 22B2- 744.28 cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số khung: RLHJA3929MY420600, số máy: JA39E-2445792, người đứng tên đăng ký là Phạm Ngọc M3, sinh năm 2003, trú tại: xã S, tỉnh Tuyên Quang. Tiến hành làm việc với chị Phạm Ngọc M3 xác định chị M3 mua sử dụng chiếc xe trên từ năm 2021, sau đó chị M3 làm mất giấy đăng ký xe, đến năm 2024 do không còn nhu cầu sử dụng nên chị đã bán xe cho một người không rõ họ tên ở xã T, huyện B nay là xã B, tỉnh Phú Thọ. Kết quả tra cứu thông tin vật chứng không có thông tin vật chứng liên quan trong các vụ việc, vụ án khác.

Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Quang M đã mua chiếc xe Honda Wave gắn BKS: 22B2-744.28 của Nguyễn Quang H6, sinh năm 2004, trú tại thôn H, xã Đ, tỉnh Phú Thọ từ ngày 27/5/2025 với giá 2.770.000 đồng, sau đó bán lại cho Phùng Hải D1 như nêu trên. Nguyễn Quang H6 mua chiếc xe này từ khoảng tháng 3 năm 2025 của một người không rõ địa chỉ thông qua mạng xã hội Facebook, thời điểm này xe không có giấy tờ và đã được gắn BKS: 22B2-744.28.

Đối với Nguyễn Quang M: Ngày 03/6/2025, trước khi thực hiện hành vi cướp tài sản, Phùng Văn L có nhắn tin nói với M về việc sẽ đi cướp lại xe đã bán cho D1. Nhưng Nguyễn Quang M cho rằng L nói đùa nên không trả lời, không tham gia hay giúp sức gì cho L và đồng bọn thực hiện hành vi phạm tội. Sáng ngày 04/6/2025, Phùng Văn L gọi điện cho M và nói về việc đã thực hiện hành vi cướp tài sản ngày 03/6/2025. Sau khi biết Phùng Văn L đã thực hiện hành vi cướp tài sản thì Nguyễn Quang M đã chủ động đến Cơ quan Công an để trình báo. Bản thân Nguyễn Quang M chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Không tố giác tội phạm” nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Quang M là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Đức H4, sinh ngày 13/12/2008, trú tại tổ dân phố V, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là tổ dân phố V, phường V, tỉnh Phú Thọ là chủ số tài khoản 1088.4010.265, mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1. Quá trình điều tra xác định, do Phùng Văn L không có số tài khoản Ngân hàng nên khi mua bán xe đã bảo Phùng Hải D1 chuyển số tiền 500.000 đồng là tiền hoa hồng vào số tài khoản của H4. Nguyễn Đức H4 không biết, không tham gia vào việc cướp tài sản nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Đức H4.

Đinh Việt T1 khai quá trình nhắn tin thông qua ứng dụng Messenger trên điện thoại di động để trao đổi với Phùng Văn L về việc cướp tài sản của Phùng H, T1 có sử dụng một chiếc điện thoại di động mượn của một người bạn xã hội tên là T6, sau khi về quán Internet 98, T1 đã trả lại điện thoại cho người này. T1 không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra xác minh, xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Phùng Hải D1 và gia đình yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng do bị tổn hại về tinh thần, sức khỏe. Gia đình Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 đã bồi thường xong cho Phùng Hải D1. Phùng H cùng gia đình đã nhận đủ số tiền trên.

Tại cơ quan điều tra, Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 09/VKSTĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Phú Thọ truy tố các bị cáo Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 phạm tội “Cướp tài sản”: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 các điều 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự; Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Phùng Văn L từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 05/6/2025. Xử phạt bị cáo Đinh Việt T1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 04/6/2025. Xử phạt bị cáo Trần Hùng T2 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 04/6/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại và đại diện hai bên gia đình đã tự nguyện thỏa thuận xong nên không đề nghị giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

*Tại phiên tòa:

-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phùng Văn L trình bày: Cháu còn nhỏ, không có biểu hiện vi phạm gì, suy nghĩ bộc phát, gia đình không biết được cháu có hành vi phạm tội bên ngoài, gia đình đã khắc phục bồi thường cho người bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đinh Việt T1 trình bày: Cháu phạm tội khi còn ít tuổi, đề nghị cho cháu được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.

-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Hùng T2 trình bày: Cháu T2 vi phạm bố mẹ không hề hay biết, cháu vừa nghỉ hè của lớp 11 thì theo bạn đi chơi và nhất thời có hành vi vi phạm. Xin hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình, bố bị điện giật giờ đang sống thực vật do chết lão không thể tự chăm sóc được bản thân, cháu còn đang theo học, đề nghị Hội đồng xét xủa giảm nhẹ hình phạt cho cháu tiếp tục có điều kiện để được đi học tiếp tục.

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Các bị cáo phạm tội còn rất trẻ nông nổi có hành vi ngủy hiểm cướp, đe dọa, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để cướp được tài sản của người bị hại. Bản thân người bị hại cũng là người chưa thành niên chỉ vừa đủ 16 tuổi, hành vi của các bị cáo không chỉ xâm hại về tài sản mà còn gây hoang mang lo sợ, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe đối với cháu Phùng Hải D1. Sau khi xảy ra hành vi vi phạm các gia đình bị cáo đã đến xin lỗi, bồi thường theo yêu cầu. Bị cáo và gia đình đã nhận đủ và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án một cách thấu tình đạt lý và cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.

-Người bào chữa cho các bị cáo phát biểu: Nhát trí tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo đó là: Khi phạm tội các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn lăn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều sinh ra trong gia đình có nhân thân tốt. Gia đinh các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, đại dện bị hại và gia đình đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Các bị cáo phạn tội khi còn quá trẻ bị cáo lớn tuổi nhất mới hơn 17 tuổi, nên sự hiểu biết về pháp luật còn hạnh chế. Hành vi vi phạm một cách bột phát, nhất thời, không có sự bàn bạc tính toán gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc cho các bị cáo dược hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội được giáo dục thành công dân tốt.

Đại diện đoàn thanh niên nơi các bị cáo cư trú phát biểu: Ở địa phương các bị cáo cũng không có biểu hiện vi phạm pháp luật gì, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đoàn thanh niên sẽ tiếp tục tuyên truyền phổ biến đến các đoàn viên khác sống tuân thủ pháp luật để không có hành vi vi phạm pháp luật. Đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, đoàn thanh niên sẽ có định hướng và giúp đỡ để các bị cáo có nhận thức, hiểu biết không có hành vi vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:

Ngày 30/5/2025, Phùng Văn L môi giới đã bán cho Phùng Hải D1 một xe mô tô Honda Wave, gắn BKS: 22B2-744.28 của Nguyễn Quang M. Tại thời điểm chuyển nhượng, xe mô tô không gắn yếm và ốp sườn xe nên Phùng Hải D1 và Phùng Văn L hẹn nhau đến chiều ngày 03/6/2025 sẽ lấy yếm, ốp sườn xe để lắp vào xe của D1. Do muốn có tiền để tiêu sài cá nhân nên Phùng Văn L đã nảy sinh ý định cướp lại chiếc xe mô tô đã bán cho D1 nên Phùng Văn L đã rủ Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 đi cùng L và D1 đến chỗ vắng người sẽ cướp xe mô tô của D1. Khoảng 20h00 ngày 03/6/2025, Phùng Văn L bảo Phùng Hải D1 điều khiển xe mô tô BKS: 22B2-744.28 chở Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 chở nhau đi đến thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ để tìm cơ hội cướp xe của D1. Khi D1 điều khiển xe chở L, T1, T2 đến khu vực đồi trại gà thuộc thôn B, xã T, là khu vực vắng người, thấy không có người qua lại nên Phùng Văn L yêu cầu Phùng Hải D1 dừng xe nhưng D1 không đồng ý nên L dùng tay phải tắt máy, rút chìa khóa xe còn T2 và T1 dùng tay đấm vào người D1. Thấy D1 gào khóc nên L nói to “hay là em đưa anh con dao” với mục đích đe dọa D1. Tiếp theo, Đinh Việt T1 dùng hai tay ôm vào người D1 rồi cả ba lôi D1 ra khỏi xe để Phùng Văn L cướp xe mô tô và điều khiển xe mô tô chở Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 đi thẳng về quán I. Đinh Việt T1, Trần Hùng T2 ở lại quán chơi còn Phùng Văn L điều khiển xe đi chơi ở huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

[3] Các bị cáo đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của các bị cáo Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 đã phạm vào tội “Cướp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”.

[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tài sản, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn xã T nên cần xử lý nghiêm minh để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Trong vụ án bị cáo Phùng Văn L là người khởi xướng lên kế hoạch cướp tài sản là xe máy của cháu D1, dẫn đến chỗ vắng người, trời tối để đe dọa đánh bị hại lấy tài sản. Các bị cáo T1, T2 là người thực hành, giúp sức cùng thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy bị cáo L là người khởi xướng, lên kế hoạch đưa người bị hại đế chỗ vắng người để thực hiện hành vi cướp tài sản, các bị cáo T1, T2 là người thực hành, giúp sức tích cực.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như: Các bị cáo phạm tội độ tuổi từ 16-18, tuổi phạm tội các bị cáo đều rất trẻ một phần do nhận thức không đầy đủ, một phần không làm chủ được ham muốn của bản thân nên đã phạm vào tội rất nghiêm trọng, cho nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho bị hại và gia đình bị hại số tiền 15.000.000 đồng. Bị hại và người đại diện hợp pháp có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và quy định về người chưa thành niên phạm tội được quy định tại các điều 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự và Luật tư pháp người chưa thành niên. Xét thấy các bị cáo còn rất trẻ việc phạm tội cũng tự phát không phải là có tổ chức, có sự phân công bàn bạc, không vì động cơ mục đích cụ thể, chỉ vì việc muốn có tai sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân nên đã bột phát nảy sinh ý định phạm tội xâm phạm đến thân thể người bị hại. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa từng vi phạp pháp luật, gia đình các bị cáo cơ bản thuần nông, riêng đối với bị cáo Trần Hùng T2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, khi phạm tội duy nhất bị cáo đang còn là học sinh còn tiếp tục đi học nếu bị cáo không bị tạm giam, bố dẻ của bị cáo bị tai nạn lao động nặng, cần có người chăm sóc đặc biệt, gia đình có ông ngoại, ông nội bị cáo được tặng Huy chương, cho nên cần aps dụng Điều 54 của bộ luật hình sự đối với bị cáo T2. Về tình tiết tăng nặng, các bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với hình phạt của các bị cáo được áp dụng không quá 3/5 của người đã thành niên phạm tội. Cần thiết áp dụng tình tiết đối với các bị cáo là người chưa thành niên, cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuy nhiên cũng phải cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với hành vi vi phạm. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 đã tác động đến gia đình bồi thường cho cháu Phùng Hải D1 số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), cháu D1 và gia đình đã nhận đủ tiền số tiền trên, không có yêu cầu gì khác cho nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 biển số xe số 22B2-744.28 hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, mặt lưng màu xanh, không có ốp ngoài, số IMEI 1:8676.9505.699.4659 của Phùng Văn L, được L sử dụng khi nhắn tin, trao đổi với T1 về việc cướp tài sản nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự. Điều 119, Điều 179, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Hùng T2.

    Xử phạt: Phùng Văn L 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 05/6/2025.

    Xử phạt: Đinh Việt T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 04/6/2025.

    Xử phạt: Trần Hùng T2 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 04/6/2025.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, mặt lưng màu xanh, không có ốp ngoài, số IMEI 1: 8676.505.699.4659 của Phùng Văn L.

    (Vật chứng trên theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 10 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Công an với Phòng thi hành án dân sự Khu vực 9- Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).

  4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Phùng Văn L, Đinh Việt T1 và Trần Hùng T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 9- Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại TG số 2- CA tỉnh Phú Thọ
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Tam Dương Bắc, Phú Thọ;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS; VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đã ký

Trần Thị Hồng Quý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- PHÚ THỌ về cướp tài sản

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn L và đồng phạm phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger