|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2025 V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Nhớ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình, Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Đức Lam Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 109/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/7/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 11A /2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/08/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 109 /2025/QĐST-HNGĐ ngày 19/09/2025 giữa:
- - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Tổ C thôn A, xã V (xã T, huyện H cũ), thành phố Đà Nẵng.
- - Bị đơn: ông Nguyễn Phú C, sinh năm 1979; Địa chỉ: tổ D phường C (phường K cũ) thành phố Đà Nẵng.
(Bà H có mặt, ông C vắng mặt lần thứ 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện, bản trình bày và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Phú C kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Số A C - Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Tháng 10 năm 2024 tôi bị đau và sống ly thân với chồng đến hiện tại. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi ly hôn ông Nguyễn Phú C.
- Về con chung: Tôi và ông Nguyễn Phú C xác nhận có 02 con chung là Nguyễn Phú Q; sinh ngày: 25/8/2020 và Nguyễn Phú G; sinh ngày: 06/9/2022. Ly hôn, nguyện vọng của tôi là trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu đồng) cho hai con (mỗi con 2.500.000 đồng)cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và ông Nguyễn Phú C tự thoả thuận.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Phú C: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn ông Nguyễn Phú C vẫn vắng mặt không có lý do và không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn ông Nguyễn Phú C.
- - Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Phú Q; sinh ngày: 25/8/2020 và Nguyễn Phú G; sinh ngày: 06/9/2022 cho bà Huỳnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Phú C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu đồng) cho hai con (mỗi con 2.500.000 đồng) cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có.
- - Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Huỳnh Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
- - Án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Phú C phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Phú C có hộ khẩu thường trú tại tổ D phường C (phường K cũ) thành phố Đà Nẵng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng có thẩm quyền giải quyết.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Phú C. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con chung”.
[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Nguyễn Phú C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 và 228 BLTTDS, HĐXX xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về nội dung:
[3] Về nội dung: Bà Huỳnh Thị H và ông Nguyễn Phú C kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Nam, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, theo Giấy đăng ký kết hôn số 31 ngày 13 tháng 10 năm 2017. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Huỳnh Thị H xác định không còn tình cảm với ông C và đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Phú C. Ông Nguyễn Phú C mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do và không có văn bản trình bày đối với yêu cầu ly hôn của bà H. Điều này chứng tỏ ông không có nguyện vọng cứu vãn cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị H đối với ông Nguyễn Phú C.
[4] Về con chung: Bà H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Phú Q; sinh ngày: 25/8/2020 và Nguyễn Phú G; sinh ngày: 06/9/2022. Ly hôn, nguyện vọng của bà H là trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho hai con (mỗi con 2.500.000 đồng).
HĐXX xét yêu cầu nuôi con của bà H thì thấy: Con chung hiện đang sinh sống với bà H, ông C không có ý phản hồi về việc yêu cầu nuôi con, nên có căn cứ để chấp nhận giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về mức cấp dưỡng nuôi con bà H yêu cầu ông C phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng), tiền cấp dưỡng giao vào ngày 10 hàng tháng, kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2025 cho đến khi đủ 18 tuổi. HĐXX xét thấy mức cấp dưỡng và thời điểm cấp dưỡng trên là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí Hôn nhân gia đình: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Phú C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
[7] Xét thấy ý kiến của đại diện VKSND khu vực 3 – Đà Nẵng tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” đối với ông Nguyễn Phú C.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Phú C.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phú Q; sinh ngày: 25/8/2020 và Nguyễn Phú G; sinh ngày: 06/9/2022 cho bà Huỳnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Phú C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho hai con (mỗi con 2.500.000 đồng) giao tiền cấp dưỡng vào ngày 10 hàng kể từ ngày 10 tháng 10 năm 2025 cho đến khi đủ 18 tuổi. HĐXX xét thấy mức cấp dưỡng trên là phù hợp nên chấp nhận.
Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Huỳnh Thị H phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009623 ngày 24/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, bà H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Phú C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Văn N |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Hôn
