|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 11- 2025
V/v: “Ly hôn giữa chị Vui và anh Doanh”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Thuỳ;
Ông Cao Văn Thịnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 80/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị V, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn P, xã X, tỉnh Ninh Bình; “vắng mặt”
- Bị đơn: Anh Đinh Văn D, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn P, xã X, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”
(Tại phiên toà chị V, anh D vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2025, quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn chị Ngô Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn D tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/07/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mẹ đẻ anh D tại thôn P, xã X, tỉnh Ninh Bình. Đến năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh D, hôn nhân không có hạnh phúc nên nguyện vọng của chị xin được ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Đinh Hải A sinh ngày 12/8/2015, cháu Đinh Hải A1, sinh ngày 11/12/2017. Tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị V nhận nuôi cháu Đinh Hải A1 và giao cháu Đinh Hải A cho anh D chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không cho ai vay nợ và cũng không nợ gì của ai nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn anh Đinh Văn D trình bày: Anh D và chị V tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn. Anh D không đồng ý ly hôn nên không trình bày quan điểm.
Về con chung: Anh D và chị V có 2 con chung là các cháu Đinh Hải A sinh ngày 12/8/2015, cháu Đinh Hải A1, sinh ngày 11/12/2017. Anh D xin nhận nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã X:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị V đăng ký kết hôn với anh Đinh Văn D vào ngày 07/07/2015 tại UBND xã X, nay là xã X trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Chị V và anh D có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã X. Quan điểm của địa phương là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Về con chung: Chị Ngô Thị V và anh Đinh Văn D có 02 con chung: Cháu Đinh Hải A, sinh ngày 12/8/2015; cháu Đinh Hải A1, sinh ngày 11/12/2017. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đề nghị của các đương sự trên cơ sở quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên, cũng như đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con chung.
Về tài sản, công nợ: Chị Ngô Thị V không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa chị V và anh D; giao con chung là cháu Đinh Hải A1, sinh ngày 11/12/2017 cho chị V nuôi dưỡng, giao con chung là cháu Đinh Hải A, sinh ngày 12/8/2015 cho anh D nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
Chị V phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị V, anh D không có mặt tại phiên tòa, chấp hành theo quy định của pháp luật đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
[2] Về hôn nhân: Chị V và anh D kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn theo chị V là do anh D và chị bất đồng quan điểm sống nên chị V làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn; quan điểm của anh D không đồng ý ly hôn. Anh D không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp gì khắc phục mâu thuẫn. Hiện tại, vợ chồng anh chị đang sống ly thân, cuộc sống hôn nhân không còn trên thực tế. Nay chị V xác định không còn tình cảm với anh D và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh D mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Ngô Thị V và anh Đinh Văn D theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị V và anh D có 02 con chung là cháu Đinh Hải A, sinh ngày 12/8/2015; cháu Đinh Hải A1, sinh ngày 11/12/2017. Trong bản tự khai chị V nhận nuôi cháu cả hai cháu Đinh Hải A1 và giao cháu Đinh Hải A cho anh D chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quan điểm của anh D nhận nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung. Xét điều kiện hoàn cảnh thực tế của các đương sự do cháu Đinh Hải A1 đang sinh sống với mẹ, cháu Đinh Hải A đang sinh sống với anh D; bản thân cháu A1 có đơn xin ở với chị V
và cháu A có đơn xin ở với anh D, do giao chị V nuôi dưỡng cháu Đinh Hải A1 và giao cháu Đinh Hải A cho anh D chăm sóc nuôi dưỡng sẽ tốt hơn về mọi mặt cho con là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Do các đương sự xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Ngô Thị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Ngô Thị V và anh Đinh Văn D.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Hải A1, sinh ngày 11/12/2017 cho chị V chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung là cháu Đinh Hải A, sinh ngày 12/8/2015 cho anh D chăm sóc và nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Ngô Thị V phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0001500 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thung |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị V và anh D kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn theo chị V là do anh D và chị bất đồng quan điểm sống nên chị V làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn; quan điểm của anh D không đồng ý ly hôn. Anh D không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp gì khắc phục mâu thuẫn. Hiện tại, vợ chồng anh chị đang sống ly thân, cuộc sống hôn nhân không còn trên thực tế. Nay chị V xác định không còn tình cảm với anh D và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
