Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày 30-9-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Bình

Bà Phạm Thị Thanh Hiên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 -Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương, Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Bảo L, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1982 tại Hải Phòng. Địa chỉ nơi cư trú: Số B C, tổ K, phường P, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị L1; có vợ Lô Thị B (đã chết) và 01 con; tiền án: Tại Bản án số 201/HSST ngày 16/7/2003 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 04 năm tù về tội Cướp tài sản; tại Bản án số 107/2021/HS-ST ngày 14/7/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền (nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Hải Phòng) xử 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tại Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 23/9/2021 Tòa án nhân dân quận Hải An (nay là Toà án nhân dân khu vực 4-Hải Phòng) xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 107/2021/HS-ST ngày 14/7/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 39 tháng tù; tiền sự: Không; về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền sự đến nay đã hết thời hạn: Năm 2010, 2018 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định của TAND quận Ngô Quyền (nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Hải Phòng). Tạm giữ ngày 07/7/2025, tạm giam ngày 16/7/2025; có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Anh Đỗ Tiến Đ1 sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường H, thành phố Hải Phòng; có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã K, tỉnh Lào Cai; nơi ở hiện tại: Số C T, phường K, thành phố Hải Phòng; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 06/7/2025, Nguyễn Bảo L phát hiện nhà anh Đỗ Tiến Đ1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ V, phường H, thành phố Hải Phòng đang xây dựng tại số B đường C, tổ dân phố K, phường P, thành phố Hải Phòng không có người trông coi, nên nảy sinh mục đích vào nhà anh Đ1 lấy trộm tài sản. L trèo tường, chui qua cửa sổ vào nhà anh Đ1 lên tầng 2, thấy trên tường có hệ thống đường ống điều hòa được quấn xốp bảo ôn, bên trong có ống đồng có giá trị nên L đã dùng hai tay giật hệ thống ống từ trên tường xuống, xé hết lớp xốp trắng bên ngoài ra, lấy ống kim loại màu đồng và dây điện màu vàng cuộn tròn lại cho vào bên trong một vỏ bao xi măng có sẵn ở tầng 2. L tiếp tục lên tầng 3 thấy một đoạn ống được quấn bằng xốp trắng đã được cuộn tròn để sẵn ở cửa sổ. L dùng tay xé hết lớp xốp bên ngoài ra, lấy ống kim loại màu đồng và dây điện màu vàng, cuộn tròn lại mang xuống tầng 2, cho cùng vào trong bao xi măng đã để đoạn ống và dây điện trước đó rồi vác qua lối cửa sổ để đi ra ngoài. Số tài sản lấy được L cho lên võng xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh đen bạc mang BKS: 15G1 – 724.34, đi đến khu vực bãi đất trống ở đường V, đốt toàn bộ số dây điện để lấy lõi dây đồng bên trong. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, L đi đến cửa hàng mua, bán phế liệu tại số C T, phường K, thành phố Hải Phòng bán cho chị Phạm Thị N, sinh năm 1990; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã K, tỉnh Lào Cai, toàn bộ số đường ống đồng và lõi dây điện cho chị N được 1.151.000 đồng (một triệu một trăm năm mươi mốt nghìn đồng). L đã chi tiêu còn lại 800.000 đồng.

Ngày 06/7/2025, anh Đỗ Tiến Đ1 đến Công an phường P trình báo về việc: Ngày 06/7/2025, anh Đỗ Tiến Đ1 phát hiện tại căn nhà của gia đình anh đang xây dựng ở địa chỉ: Tổ K, phường P, thành phố Hải Phòng bị mất một số tài sản gồm đường ống đồng được quấn bảo ôn kèm dây điện của hệ thống điều hoà đang trong giai đoạn thi công, lắp đặt, chưa qua sử dụng. Ngoài ra, anh Đ1 còn giao nộp 14,4m xốp quấn bảo ôn màu trắng.

Đến 19 giờ cùng ngày Nguyễn Bảo L đến Cơ quan Công an phường P, thành phố Hải Phòng đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh đen bạc mang BKS: 15G1 - 724.34; 01 mũ bảo hiểm có lưỡi trai màu đen có chữ Vespa; 01 áo phông ngắn tay không có cổ màu đen trước ngực có họa tiết hoa văn; 01 quần lửng màu xám có dây rút màu đen trên quần có chữ Adidas; đôi dép tông màu trắng xanh trên dép có chữ Adidas là phương tiện, trang phục Nguyễn Bảo L mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng kết luận: 16 mét đường ống kim loại có đường kính 1cm, chủng loại ghi trên ống METTUBE MALAYSIA – 9,5X0 71X15m - JISH3300 (hàng mới 100% chưa qua sử dụng) trị giá 1.120.000 đồng; 16 mét đường ống kim loại có đường kính 0,6cm, chủng loại ghi trên ống METTUBE MALAYSIA – 6,35x0 71x15m - JISH3300 (hàng mới 100% chưa qua sử dụng) trị giá 729.600 đồng; 16 mét xốp quấn bảo ôn, chủng loại ghi trên vỏ: V – TUBE Made by J (hàng mới 100% chưa qua sử dụng) trị giá 211.200 đồng; 16 mét dây điện liên doanh Hàn Quốc loại 2,5mm, chủng loại ghi trên vỏ: 460/750VCU/PVC VCTFK 10x2,5 50MM LEES SUNG TECHNOLOGY OF KOREA (hàng mới 100% chưa qua sử dụng) trị giá 224.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 2.284.800 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi tư nghìn tám trăm đồng).

Chị Phạm Thị N khai nhận: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/7/2025, khi chị đang ở nhà thì có người đàn ông không quen biết đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đến nhà gọi cửa bán 04 đoạn ống dây đồng được xếp thành cuộn và một ít đồng đốt, chị đã mua với giá 1.151.000 đồng. Chị N không biết số tài sản đã mua là tài sản bị trộm cắp nên đã tự nguyện giao nộp các đồ vật thu mua của L gồm: 04 đoạn ống cùng loại, màu vàng, có đường kính đo được là 01 cm, tổng chiều dài là 16m; 04 đoạn ống cùng loại, màu vàng, có đường kính đo được là 0,6 cm, tổng chiều dài là 16m; 1,2 kg dây kim loại màu vàng (dạng lõi dây dẫn điện).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Tiến Đ1 yêu cầu L bồi thường 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Chị Phạm Thị N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSKV5 ngày 11 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng truy tố Nguyễn Bảo L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo và thừa nhận như nội dung trên; ngoài ra bị cáo khai mục đích trộm cắp lấy tiền ăn tiêu và sử dụng ma tuý; đối với yêu cầu bồi thường của anh Đ1 bị cáo không có ý kiến gì, do đang bị tạm giam lên chưa có điều kiện để bồi thường.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Bảo L về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Bảo L2 mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 2.284.800 đồng; đã được cơ quan Công an thu hồi trả lại người bị hại, do số ống đồng, lõi dây điện không còn nguyên trạng như trước lên người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 2.284.800 đồng, bị cáo không có ý kiến gì và nhất trí với yêu cầu của người bị hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại 2.284.800 đồng.

Đối với chị N là người đã bỏ ra 1.151.000 đồng mua số ống đồng, lõi dây điện bằng đồng; chị N không yêu bị cáo phải hoàn trả lại cho chị số tiền này; do vậy đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại để bồi thường cho người bị hại.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm có lưỡi trai màu đen có chữ Vespa; 01 áo phông ngắn tay không có cổ màu đen trước ngực có họa tiết hoa văn; 01 quần lửng màu xám có dây rút màu đen trên quần có chữ Adidas; 01 đôi dép tông màu trắng xanh trên dép có chữ Adidas.

Đối với số tiền 1.151.000đ là tiền do phạm tội mà có; cơ quan Điều tra đã thu giữ được của bị cáo 800.000đ, đề nghị Hội đồng xét xử trả cho người bị hại và buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại là 1.484.800 đồng.

Đối với xe mô tô L2 sử dụng vào việc phạm tội, L2 khai mượn của người bạn tên D (chưa xác minh được nhân thân, lai lịch) trước ngày thực hiện hành vi phạm tội khoảng 02 - 03 ngày. Khi mượn xe L2 không hỏi rõ về nguồn gốc xe. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô là anh Đỗ Quang L3, sinh năm 1988, nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Hải Phòng. Ngày 03/7/2025, anh L3 bị mất chiếc xe trên. Anh L3 đã trình báo Công an phường T và đang được thụ lý giải quyết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra bàn giao xe mô tô cho Công an phường T, thành phố Hải Phòng để xử lý theo quy định của pháp luật; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với chị Phạm Thị N mua tài sản của L2, do chị N không biết là tài sản do L2 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an thành phố H không có căn cứ để xử lý; do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi “Trộm cắp tài sản”:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Khoảng 01 giờ ngày 06/7/2025, Nguyễn Bảo L đã có hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản của anh Đỗ Tiến Đ1 tại nhà ở tổ K, phường P, thành phố Hải Phòng gồm: 16 mét đường ống kim loại có đường kính 01cm, 16 mét đường ống kim loại có đường kính 0,6cm, 16 mét xốp quấn bảo ôn, 16 mét dây điện liên doanh Hàn Quốc loại 2,5mm. Tổng trị giá tài sản là 2.284.800 đồng (Hai triệu hai trăm tám mươi tư nghìn tám trăm đồng). Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Bảo L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

[3] Bị cáo đã 03 lần bị Toà án xét xử đến nay các bản án này đều chưa được xoá án tích, tại Bản án số 201/HSST ngày 16/7/2003 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 04 năm tù giam về tội Cướp tài sản (bị cáo chưa thi hành hết phần bồi thường dân sự); Tại Bản án số 107/2021/HS-ST ngày 14/7/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền (nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Hải Phòng) xử 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tại Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 23/9/2021 Tòa án nhân dân quận Hải An (nay là Toà án nhân dân khu vực 4-Hải Phòng) xử 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 107/2021/HS-ST ngày 14/7/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 39 tháng tù (ra tù ngày 13/3/2024). Nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung được quy định tại điểm g “tái phạm nguy hiểm” khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu riêng về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.

[5] Do cần tiền tiêu xài cá nhân và sử dụng ma tuý, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã ra cơ quan công an đầu thú; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

- Về nhân thân:

[7] Ngoài những tiền án nêu trên, bị cáo còn có 02 tiền sự vào năm 2010, 2018 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định của TAND quận Ngô Quyền (nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Hải Phòng), những tiền sự này đến nay đã hết thời hạn.

- Về hình phạt áp dụng:

[8] Từ những phân tích trên cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian dài tương ứng hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung

Về hình phạt bổ sung:

[9] Bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng; nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

- Về trách nhiệm dân sự:

[10] Tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh Đ1 trị giá 2.284.800 đồng (nguyên trạng ban đầu, theo kết luận của Hội đồng định giá), sau khi chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại anh Đ1 nhưng không còn nguyên trạng do bị cáo đã xé hết lớp xốp bên ngoài ống đồng và nhựa bọc của dây điện, tại cơ quan điều tra anh Đ1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường 7.000.000 đồng; ngày 26/9/2025 anh Đ1 có đơn gửi Hội đồng xét xử xin vắng mặt tại phiên toà và trình bày về tài sản bị cáo chiếm đoạt không khắc phục được như trước và yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường trị giá tài sản theo kết luận của Hội đồng định giá đã kết luận. Tại cơ quan điều tra bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Đ1; tại phiên toà sau khi nghe công bố đơn đề nghị của anh Đ1, bị cáo đồng ý sẽ có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.284.000đ; căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đ1 số tiền 2.284.800 đồng.

[11] Đối với số tiền 1.151.000 đồng chị Phạm Thị N bỏ ra mua tài sản bị cáo chiếm đoạt, nay chị N không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả; do vậy Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng:

[12] Cơ quan Điều tra thu giữ của bị cáo 01 mũ bảo hiểm có lưỡi trai màu đen, có chữ Vespa; 01 áo phông ngắn tay không có cổ màu đen trước ngực có họa tiết hoa văn; 01 quần lửng màu xám có dây rút màu đen trên quần có chữ Adidas; 01 đôi dép tông màu trắng xanh trên dép có chữ Adidas; xét không còn giá trị sử dụng và bị cáo không có ý kiến hay đề nghị gì về số tài sản này, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên tịch thu tiêu huỷ.

[13] Đối với số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét đây là tiền do bị cáo bán tài sản chiếm đoạt của anh Đ1 mà có; căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho anh Đ1 số tiền 800.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 2.284.800đ bị cáo phải bồi thường cho anh Đ1; số tiền bị cáo còn phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Đ1 là:

2.284.800₫ - 800.000₫ = 1.484.800đ (một triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm đồng).

- Về án phí:

[14] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

- Về quyền kháng cáo:

[15] Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Bảo L 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 7 năm 2025.

- Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả anh Đỗ Tiến Đ1 số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo L phải bồi thường cho anh Đỗ Tiến Đ1 số tiền 1.484.800₫ (một triệu, bốn trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (anh Đ1) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm có lưỡi trai màu đen, có chữ Vespa; 01 áo phông ngắn tay không có cổ màu đen trước ngực có họa tiết hoa văn; 01 quần lửng màu xám có dây rút màu đen trên quần có chữ Adidas; 01 đôi dép tông màu trắng xanh trên dép có chữ Adidas thu giữ của bị cáo.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11 tháng 9 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5-Hải Phòng; Ủy nhiệm chi lập số: 49/PC01 lập ngày 17/9/2025 giữa Văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Kho bạc Nhà nước khu vực 3).

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại (anh Đ1) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hay ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị N) có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND Khu vực 5-Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an Tp. Hải Phòng + PV 06 + PC10;
  • - Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
  • - Bị cáo + THAHS;
  • - Bị hại + Người liên quan;
  • - Phòng THADS khu vực 5-Hải Phòng;
  • - Công an + UBND phường Phù Liễn, Tp. Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bảo Lâm trộm cắp TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger