TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 58/2025/HC-ST
Ngày: 26/9/2025
“V/v Yêu cầu huỷ Văn bản trả lời đơn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam.
Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Đinh Văn Luận.
2- Ông Trương Ngọc Cường.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 48/2024/HC-ST ngày 28 tháng 10 năm 2024 khởi kiện “Yêu cầu huỷ Văn bản trả lời đơn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST- HC, ngày 15 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện:
Ông Lê Thành L, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn T, xã M, thành phố Hà Nội (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn M, xã T, thành phố Hà Nội (có mặt).
* Người bị kiện:
- Chủ tịch UBND tỉnh B
- UBND tỉnh B
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vương Quốc T1 – Chủ tịch (vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đào Quang K; vắng mặt (vắng mặt)
- UBND xã T, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Q – Chủ tịch (vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn H – Phó Chủ tịch; vắng mặt (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị C, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn Đ, xã M, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Anh Lê Thành G, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn Đ, xã M, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền chị C, anh G: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn M, xã T, thành phố Hà Nội (có mặt).
- Ông Nguyễn Viết T2, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh (đã mất)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Viết T2: Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Ông Nguyễn Viết T3 (tức Nguyễn Viết H1), sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Cụ Nguyễn Viết N, sinh năm 1935; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Cụ Nguyễn Thị L2, sinh năm 1942; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng phía người khởi kiện trình bày:
Ông L là chồng bà Nguyễn Thị T4, (sinh năm 1962, chết năm 2024; địa chỉ trước khi chết: thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP .). Bà T4 chết không để lại di chúc.
Bà T4 là con ruột duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ (hi sinh năm 1966; Nguyên quán: Đ, Đ, Y, Bắc Ninh).
Khi còn sống, bà T4 đã có đơn khởi kiện đề nghị tòa án xem xét hủy các văn bản sau:
- - Hủy Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (văn bản số 539);
- - Hủy Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (văn bản số 517);
- - Hủy Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (văn bản số 50);
- - Hủy Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (văn bản số 64).
Do bà T4 chết đột ngột nên theo quy định thì ông L và các con là những người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bà T4. Do đó, ông L đã có đơn khởi kiện gửi tòa án đề nghị hủy các văn bản nêu trên.
Căn cứ ông L đề nghị tòa án hủy các văn bản nêu trên là do:
1) Về nguồn gốc 13,5 thước đất nông nghiệp và trả tiền chế độ của liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ từ năm 1980 - 2007 của UBND xã Đ là cấp đất, trả tiền sai đối tượng, vi phạm điều cấm của Luật ngân sách Nhà nước.
- - Năm 1990, xã Đ có chính sách giao cho thân nhân thờ cúng liệt sĩ 13,5 thước đất nông nghiệp. Bà T4 là thân nhân duy nhất của liệt sĩ lại không được giao đất nói trên. UBND xã Đ lúc đó đã giao đất trên cho ông N (anh liệt sĩ) và 2 con ông N là ông T2 và ông T3.
- Như vậy, việc giao đất trên là giao không đúng đối tượng.
- - Tại công văn số 64 ngày 22/7/2020 UBND xã Đ lại cho rằng do năm 1982 gia đình họp và được sự nhất trí của bà nội, ông T3 được giao thờ cúng LS Nguyễn Hoa Đ, hàng năm vẫn nhận chế độ chính sách của nhà nước đối với thân nhân liệt sỹ, được sự nhất trí của gia đình đã giao cho ông T2 là 10 thước và ông T3 là 3,5 thước.
Nội dung trả lời của văn bản số 64 là sai sự thật và trái pháp luật vì: Theo quy định tại Phần I Thông tư 59 năm 1956 của Bộ T6; Điều 1 Nghị định 45 năm 1976, Quyết định 301 năm 1980 của Hội đồng chính phủ, Nghị định số 980 năm 1956 của Phủ Thủ tướng thì bố con ông N không phải là thân nhân liệt sĩ và bà T4 cũng chưa bao giờ giao việc thờ cúng liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ cho bố con ông N. Giả sử có việc giao thờ cúng đi nữa thì bố con ông N cũng chỉ là chủ thể được giao thờ cúng chứ không chuyển tư cách của họ từ được giao thờ cúng thành thân nhân liệt sĩ nên bố con ông N không phải là đối tượng được giao đất thờ cúng như việc mà UBND xã Đ đã làm.
2) Về chế độ, chính sách nhà nước chi trả cho thân nhẫn liệt sỹ Nguyễn Hoa Đ từ năm 1980- 2007 cũng là trả sai đối tượng, vi phạm nghiêm trọng pháp luật.
Như đã nói trên, bố con ông N không phải là thân nhân liệt sĩ, bà T4 không có bất cứ văn bản nào ủy quyền cho bố, con ông N thay mặt bà T4 kê khai, nhận các chế độ đối với thân nhân liệt sĩ, gồm cả tiền tử tuất của liệt sĩ bà T4 cũng không được nhận mà tất cả do bố con ông N nhận.
Việc chi trả chính sách như trên là trái pháp luật nghiêm trọng.
3) Việc UBND xã Đ trả lời tại văn bản số 50 là trái pháp luật vì:
Ngày 22/7/2020, ông Nguyễn Bá D là Phó chủ tịch UBND xã Đ ký văn bản số 64 để trả lời đơn của bà T4. Không đồng ý với văn bản số 64, ngày 22/8/2020 bà T4 đã có đơn khiếu nại văn bản số 64.
Tuy nhiên, chủ tịch UBND xã Đ không ra thông báo thụ lý đơn khiếu nại của bà T4, không ra quyết định giải quyết đơn khiếu nại của bà T4 mà ra Thông báo số 50 trả lời bà T4 là vi phạm điều cấm đã được quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Khiếu nại. Nội dung trả lời của Thông báo số 50 cũng không đúng nội dung quyết định giải quyết khiếu nại phải có.
4) Đối với việc giải quyết của UBND huyện Y tại văn bản số 539 và văn bản số 517 cũng trái pháp luật nghiêm trọng, cụ thể:
a) Việc ông P Chánh văn phòng UBND huyện Y ký văn bản số 517 là trái pháp luật cả về nội dung và hình thức vì.
Không đồng ý với văn bản số 64 và 50 của UBND xã Đ nên ngày 06/3/2021 bà T4 đã có đơn khiếu nại 2 văn bản trên gửi đến chủ tịch UBND huyện Y.
Ngày 24/3/2021, ông Lưu Tiến D1 - phó chánh văn phòng UBND huyện Y ký văn bản số 517 trả lời đơn của bà T4.
Việc giải quyết đơn khiếu nại như trên là trái pháp luật nghiêm trọng vì:
- - Theo quy định, khi công dân khiếu nại thì chủ tịch UBND cấp huyện phải thụ lý giải quyết nhưng chủ tịch UBND huyện Y không thụ lý để giải quyết là vi phạm nghiêm trọng quy định về thụ lý giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại.
- - Chủ tịch UBND huyện Y không ra quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định tại Điều 31 Luật Khiếu nại để giải quyết đơn khiếu nại là vi phạm điều cấm quy định tại Điều 6 Luật Khiếu nại.
- - Việc ông chủ tịch UBND huyện Y không ra quyết định giải quyết khiếu nại mà giao cho bộ phận Văn phòng ký trả lời đơn khiếu nại là vi phạm về thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại và vi phạm điều cấm của pháp luật (Văn phòng không có chức năng ra văn bản giải quyết khiếu nại, kiến nghị).
- - Việc trả lời UBND cấp xã giải quyết là đã xong và UBND huyện không giải quyết đơn khiếu nại của bà T4 nữa là nội dung trả lời trái pháp luật, mang tính áp đặt, vi phạm điều cấm của pháp luật vì theo quy định tại Điều 6 Luật Khiếu nại thì khi không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước, người dân được thực hiện quyền khiếu nại lần 2 hoặc khởi kiện ra tòa án.
- - Đơn của bà T4 còn đề nghị giải quyết cả chế độ trả cho thân nhân liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ từ năm 1980-2007 nhưng chủ tịch UBND huyện Y không giải quyết nội dung này là trả lời thiếu nội dung đề nghị, vi phạm khoản 2 Điều 6 Luật Khiếu nại .
b) Đối với văn bản số 539.
Văn bản số 539/UBND-NC, không giải quyết đơn của bà T4 mà trả lời bà T4 là: việc tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp được giao từ năm 1992, địa phương giao theo chế độ hương hỏa – thờ cúng liệt sỹ, diện tích này đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1999 và UBND huyện Y hướng dẫn công dân gửi đến TAND để được giải quyết theo quy định; Khẳng định các nội dung bà T4 đề nghị giải quyết đã được các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện và UBND xã Đ xem xét, xác minh và giải quyết.
Việc giải quyết tại văn bản số 539 nêu trên là không đúng sự thật khách quan, trái pháp luật bởi:
- - Bà T4 không tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với 13.5 thước đất giao theo tiêu chuẩn thân nhân liệt sĩ mà là đề nghị UBND huyện Y thu hồi GCNQSDĐ, thu hồi diện tích đất nông nghiệp này vì bà T4 cho rằng việc cấp đất, giao đất là sai đối tượng.
- - Văn bản số 539 trả lời chung chung là tiền chế độ trả cho thân nhân liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ nhưng không làm rõ, không trả lời được thân nhân đó là ai, trong khi bà T4 đã chứng minh bà T4 là thân nhân duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ chưa bao giờ được nhận các chế độ và cũng không ủy quyền cho ai nhận chế độ thân nhân liệt sĩ.
Từ các căn cứ trên, kính đề nghị tòa án xem xét chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông L.
* Ý kiến của Chủ tịch UBND huyện Y, UBND huyện Y:
Năm 2021, bà T4 có hai nội dung gồm: Phán ánh việc UBND xã Đ giao diện tích đất nông nghiệp thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Hoa Đ (là cha đẻ bà Nguyễn Thị T4) cho cha con ông Nguyễn Viết T3 là sai đối tượng và đề nghị giải quyết phần đất ở cho công dân đã được TAND tỉnh Hà Bắc (cũ) xem xét, giải quyết trong bản án phúc thẩm số 13/DSPT ngày 09/3/1995, đã được UBND huyện Y trả lời tại Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021.
Năm 2023, bà T4 đề nghị hai nội dung gồm: Liên quan đến diện tích 13,5 thước đất nông nghiệp và việc chi trả chế độ, chính sách cho thân nhân (gia đình) liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ từ 1980-2007, đã được UBND huyện Y trả lời tại Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023.
Quan điểm về việc Người khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ: Văn bản trả lời đơn số 539/UBND-NC ngày 07/4/2024 và văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của UBND huyện Y là không có căn cứ. UBND huyện Y đề nghị TAND tỉnh Bắc Ninh giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của UBND xã Đ:
UBND xã Đ không có ý kiến gì, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của Chủ tịch UBND tỉnh B, UBND tỉnh B (là cơ quan kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Chủ tịch UBND huyện Y, UBND huyện Y):
Sau khi nghiên cứu xem xét hồ sơ, các tài liệu có liên quan, UBND tỉnh B thống nhất với quan điểm vụ việc do người đại diện theo uỷ quyền của Chủ tịch UBND huyện Y và UBND huyện Y đã trình bày trước đó, không có ý kiến nào khác.
* Ý kiến của UBND xã T (là cơ quan kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND xã Đ):
UBND xã T nhất trí với các tài liệu mà UBND xã Đ cũ trước đây đã cung cấp cho Toà án và không bổ sung thêm ý kiến, tài liệu mới.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Thành G, chị Lê Thị C (là con ông Lê Thành L) trình bày:
Bố anh G, chị C là ông Lê Thành L là người có đơn khởi kiện vụ án được tòa án thụ lý nói trên.
Mẹ anh G, chị C là bà Nguyễn Thị T4, (sinh năm 1962, chết năm 2024; địa chỉ trước khi chết: thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP .). Bà T4 chết không để lại di chúc.
Ông L, bà Thủy S được hai người con là anh Lê Thành G, chị Lê Thị C
Bà T4 là con ruột duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ (hi sinh năm 1966; Nguyên quán: Đ, Đ, Y, Bắc Ninh).
Khi còn sống, bà T4 đã có đơn khởi kiện đề nghị tòa án xem xét hủy các văn bản sau:
- - Hủy Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (văn bản số 539);
- - Hủy Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (văn bản số 517);
- - Hủy Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (văn bản số 50);
- - Hủy Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (văn bản số 64).
Do bà T4 chết đột ngột nên theo quy định thì ông L và các con là những người thừa kế quyền, nghĩa vụ của bà T4. Do đó, ông L đã có đơn khởi kiện gửi tòa án đề nghị hủy các văn bản nêu trên.
Quan điểm của anh G, chị C là đồng ý với toàn bộ đơn khởi kiện của ông L. Anh G, chị C đề nghị tòa án xem xét tuyên hủy các văn bản số 539, 517, 64 và 50 nêu trên. Về lý do đề nghị hủy các văn bản trên là do:
Thứ nhất: 13.5 thước đất nông nghiệp mà xã Đ giao cho ông N, ông V, ông T2 là giao sai đối tượng. Đất đáng lẽ phải được giao cho thân nhân liệt sĩ là bà T4 nhưng UBND xã lại giao cho các chủ thể trên khi không được sự đồng ý của bà T4. Do vậy quan điểm của anh G, chị C là cần phải thu hồi quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sai cho các ông nêu trên.
Thứ hai: Đối với các chế độ chính sách mà đáng lẽ ra bà T4 được nhận vì là con của liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ nhưng UBND xã Y, UBND huyện Y không trả cho bà T4 thì việc trả đó cũng là trả sai đối tượng.
Thứ ba: Chính vì việc giao đất và trả chế độ sai đối tượng nêu trên nên bà T4 phải gửi đơn đến UBND xã Đ đề nghị giải quyết nhưng UBND xã Đ lại trả lời theo nội dung văn bản số 64 và văn bản số 50 là trái pháp luật nghiêm trọng, cần hủy bỏ các văn bản nói trên, đặc biệt là văn bản số 50 nói trên bởi: UBND xã Đ, chủ tịch UBND xã Đ không thụ lý đơn khiếu nại của bà T4, không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại mà lại ra thông báo để trả lời là đã thực hiện hành vi mà pháp luật nghiêm cấm đã quy định tại Điều 31 Luật Khiếu nại.
Thứ tư: Đối với việc giải quyết của UBND huyện Y và chủ tịch UBND huyện Y tại các văn bản số 539 và văn bản số 517 cũng trái pháp luật nghiêm trọng, cụ thể:
- - Văn bản số 517 lại do Phó Chánh văn phòng UBND huyện Y ký là không đúng thẩm quyền giải quyết, nội dung văn bản số 517 trả lời UBND cấp xã giải quyết là đã xong và UBND huyện không giải quyết đơn khiếu nại của bà T4 nữa là nội dung trả lời trái pháp luật, mang tính áp đặt, vi phạm điều cấm của pháp luật vì theo quy định tại Điều 6 Luật Khiếu nại thì khi không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước, người dân được thực hiện quyền khiếu nại lần 2 hoặc khởi kiện ra tòa án. Hơn nữa, đơn của bà T4 có nội dung khiếu nại mà chủ tịch UBND huyện không ra quyết định giải quyết khiếu nại để giải quyết cũng là vi phạm nghiêm trọng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T4.
- - Đối với văn bản số 539: Văn bản số 539/UBND-NC, không giải quyết đơn của bà T4 mà trả lời bà T4 là: việc tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp được giao từ năm 1992, địa phương giao theo chế độ hương hỏa – thờ cúng liệt sỹ, diện tích này đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1999 và UBND huyện Y hướng dẫn công dân gửi đến TAND để được giải quyết theo quy định; Khẳng định các nội dung bà T4 đề nghị giải quyết đã được các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện và UBND xã Đ xem xét, xác minh và giải quyết.
Việc trả lời như trên là không đúng sự thật khách quan, trái pháp luật bởi: bà T4 không tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với 13.5 thước đất giao theo tiêu chuẩn thân nhân liệt sĩ mà là đề nghị UBND huyện Y thu hồi GCNQSDĐ, thu hồi diện tích đất nông nghiệp này vì bà T4 cho rằng việc cấp đất, giao đất là sai đối tượng; Văn bản số 539 trả lời chung chung là tiền chế độ trả cho thân nhân liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ nhưng không làm rõ, không trả lời được thân nhân đó là ai, trong khi bà T4 đã chứng minh bà T4 là thân nhân duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ chưa bao giờ được nhận các chế độ và cũng không ủy quyền cho ai nhận chế độ thân nhân liệt sĩ.
Từ các căn cứ trên, anh G, chị C kính đề nghị tòa án xem xét chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Lê Thành L.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Viết T3 trình bày:
Cụ bà ông T3 là Ngô Thị Q1, cụ ông là Nguyễn Viết S1 thờ cùng liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ đến năm 1980 là cụ ông mất, năm 1982 cụ bà giao thờ cúng cho ông Nguyễn Viết T3, năm 1984 cụ bà mất. Cụ bà có truyền lại cho chú T3 thờ cúng ông liệt sĩ. Từ năm 1992 địa phương thừa ruộng có quỹ đất rộng nên giao cho thương binh liệt sĩ mỗi người 10 thước và 3,5 thước giao hành tổng được 13,5 thước đất nông nghiệp, khi giao là giao cho cụ Nguyễn Viết N (là anh trai ông Đ), GCNQSDĐ đối với diện tích đất thờ cùng này là mang tên ông Nguyễn Viết Tiếp quản L3.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành L là: Huỷ Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Huỷ Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Huỷ Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Huỷ Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh gia đình ông T3 không đồng ý.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị L1 trình bày:
Hiện nay, ông Nguyễn Viết T2 đã mất tháng 2/2024 (âm lịch); vợ chồng ông T2, bà L1 sinh được 03 người con: Chị Nguyễn Thị N1 sinh năm 1981; chị Nguyễn Thị L4 sinh năm 1984, anh Nguyễn Viết T5 sinh năm 1987 cùng địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. GCNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Viết T2 do vợ là bà L1 quản lý, diện tích đất nông nghiệp do ông T3 (H1) đứng lên cúng ông liệt sĩ và đang sử dụng. Các con của ông T2 và bà L1 không liên quan đến diện tích đất nông nghiệp này, đề nghị Tòa án không tham gia tố tụng.
Đối với chế độ tiền liệt sĩ, ông Tiếp nhận để thờ cúng từ năm 1982 đến năm 2007. Năm 2007, bà T4 tự chuyển tiền chế độ liệt sĩ cho bà chính bà T4, gia đình ông T2 không biết và không được địa phương thông báo. Gia đình ông T2 vẫn thờ cúng liệt sĩ từ trước đến nay, bà T4 không về tham gia thờ cúng bao giờ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành L là: Huỷ Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Huỷ Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Huỷ Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Huỷ Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh gia đình bà L1 không đồng ý.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L2:
Cụ L2 là mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị T4, (sinh năm 1962, chết năm 2024).
Bà T4 là người đã khởi kiện đề nghị hủy các văn bản của UBND xã Đ, UBND huyện Y. Quá trình tòa án đang giải quyết vụ việc, không may bà T4 qua đời mà không kịp để lại di chúc để định đoạt tài sản của mình. Hiện TAND tỉnh Bắc Ninh đang giải quyết vụ án trên theo thông báo về việc thụ lý vụ án số 49/TB-TLVA ngày 28/10/2024.
Cụ L2 lấy ông Nguyễn Hoa Đ và sinh được một người con duy nhất là bà Nguyễn Thị T4, (sinh năm 1962, chết năm 2024).
Sau khi lấy liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ thì cụ L2 về chung sống với bố mẹ liệt sĩ tại nhà đất tại Đ, Đ, Y, Bắc Ninh của bố mẹ liệt sĩ cho cụ L2 và liệt sĩ lúc lấy nhau. Sau khi lấy nhau một thời gian ngắn thì liệt sĩ tham gia quân đội và đã không may hi sinh. Bà L2 ở lại chăm sóc bà T4 và bố mẹ chồng bà L2 đến năm 1974 vì hoàn cảnh quá cực khổ nên cụ L2 phải lập gia đình với người khác. Sau khi cụ Lưu lập gia đình thì bà T4 vẫn ở với ông bà. Đến khi bà T4 lập gia đình với ông Lê Thành L là người Đại Thịnh, M, Hà Nội thì chuyển về ở nhà chồng.
Nhiều năm từ khi còn sống, bà T4 nhiều lần đau đáu tâm niệm là đòi về phần đất tiêu chuẩn mà đáng lẽ thân nhân thờ cúng liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ được hưởng là 13.5 thước đất nông nghiệp mà UBND xã Đ giao theo tiêu chuẩn cho thân nhân thờ cung liệt sĩ từ năm 1990. Lúc đó tuy bà T4 về nhà chồng ở nhưng là người duy nhất thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Hoa Đ. Về việc vì sao UBND xã lúc đó lại không giao đất theo tiêu chuẩn cho bà T4 mà giao cho gia đình ông N thì cụ L2 cũng không rõ. Bản thân cụ L2 là người ở địa phương nhưng cụ L2 cũng không được biết sự việc trên, không được hỏi ý kiến gì. Mãi đến khi bà T4 làm đơn tranh chấp thì cụ L2 mới biết đến chủ trương giao đất trên. Bà T4 khi còn sống gặp cụ L2 ở quê là lần nào cũng khóc nói, dù vất vả thế nào bà T4 cũng phải đòi về đất tiêu chuẩn của bố bà T4 vì đó là tính mạng, sương máu của bố bà T4 hi sinh mới có. Bố con ông N không chăm sóc, đỡ đần bà T4, không thờ cúng bố bà T4 mà lại được hưởng đất thờ cúng của bố bà T4, đánh đuổi bà T4 ngay ngày giỗ bố bà T4 thì rất đau lòng. Bản thân cụ L2 tuy phận đã từng lấy liệt sĩ nhưng đã tái giá nên cụ L2 cũng chỉ biết động viên bà T4, không muốn can thiệp vào quyết định của bà T4. Nay không may bà T4 đã chết khi tâm nguyện chưa hoàn thành cụ L2 cũng rất đau lòng. Cụ Lưu nghĩ rằng, giá trị kinh tế của 13.5 thước đất nông nghiệp không nhiều nhưng lại có ý nghĩa tinh thần động viên, ghi nhận rất lớn cho thân nhân liệt sĩ. Bà T4 đã mất nhưng vẫn còn chồng, con bà T4 là ông Lê Thành L và anh Lê Thành G, chị Lê Thị C, chồng con bà T4 vẫn thờ cúng bà T4 và thờ cúng cả liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ thì cụ L2 có quan điểm là đề nghị tòa án xem xét, chấp thuận đơn khởi kiện của bà T4 mà người kế thừa quyền, nghĩa vụ là ông L, anh G, chị C. Phần thừa kế nếu có mà cụ L2 được hưởng từ bà T4 liên quan đến quyền lợi, tài sản mà bà T4 đang khởi kiện (người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà T4 là ông L, anh G, chị C) thì cụ L2 có quan điểm là cụ L2 xin nhận và cho lại toàn bộ cho ông Lê Thành L. Mọi nghĩa vụ liên quan đến việc nhận tài sản, quyền lợi này thì ông L thực hiện.
Ngoài các nội dung trên thì cụ Lưu K1 trình bày, không đề nghị nội dung nào khác.
* Tại phiên toà sơ thẩm:
Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cho rằng các Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020; Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh ban hành không đúng trình tự theo luật giải quyết khiếu nại về hình thức cũng như nội dung do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về việc yêu cầu hủy Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020; Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
UBND xã T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Viết T3 và bà Ngô Thị L1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và đồng ý với đề nghị của UBND xã T.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính theo quy định.
- + Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật TTHC; Điều 17, 18, 31, 40 Luật khiếu nại năm 2011; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông L về việc hủy: Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Tòa án đã tiến hành cho các bên đương sự đối thoại, nhưng người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người bị kiện vẫn giữ nguyên quyết định hành chính bị khởi kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hành chính để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên. Sau khi thảo luận và nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh B, UBND tỉnh B, cụ Nguyễn Viết N, cụ Nguyễn Thị L2 vắng mặt nhưng đã có văn bản xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt đương sự và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện:
Ngày 22/7/2020 UBND xã Đ có Văn bản số 64/CV-UBND về việc trả lời đơn của công dân Nguyễn Thị T4 ở Đ, Đ, M, Hà Nội. Bà T4 tiếp tục có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp, ngày 19/10/2020 UBND xã Đ ban hành Thông báo số 50/TB-UBND về việc xử lý đơn của công dân. Ngày 24/3/2021 UBND huyện Y ban hành Văn bản số 517/UBND-NC về việc trả lời đơn của bà Nguyễn Thị T4, M, Hà Nội. Bà T4 tiếp tục có đơn gửi UBND huyện Y và nhận được Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của UBND huyện Y. Ngày 18/5/2023, bà T4 nộp đơn khởi kiện; ngày 23/3/2024 bà T4 mất ông Lê Thành L là chồng bà T4 kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà T4 làm đơn khởi kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án “Yêu cầu huỷ Văn bản trả lời đơn” là đúng đối tượng khởi kiện, đúng thẩm quyền cũng như thời hiệu khởi kiện theo quy định tại các Điều 30, 32, 116 Luật tố tụng hành chính.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành L:
[3.1] Xét về tính hợp pháp của Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020 và Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Về hình thức và thẩm quyền và trình tự thủ tục ban hành về hình thức và nội dung: Sau khi UBND xã Đ tiến hành hòa giải về tranh chấp đất nông nghiệp giữa bà T4 với ông N, ông T2 và ông T3 không thành thì bà T4 đã có đơn gửi UBND xã Đ đề nghị UBND xã xem xét giải quyết thu hồi lại 13,5 thước đất nông nghiệp đã giao cho bố con ông Nguyễn Viết N, Nguyễn Viết T2, Nguyễn Viết T3 (H1) để trả lại cho công dân. Sau khi nhận được đơn của bà T4 UBND xã Đ ban hành Văn bản số 64/CV-UBND về việc trả lời đơn của công dân Nguyễn Thị T4 ở Đ, Đ, M, Hà Nội. Ngày 24/5/2020 UBND xã Đ tiếp tục nhận được đơn của bà T4 và ra Thông báo 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 về việc xử lý đơn của công dân. UBND xã Đ không thụ lý đơn khiếu nại của bà T4, và không ra quyết định giải quyết đơn khiếu nại của bà T4 mà ra Thông báo số 50 trả lời bà T4 là vi phạm về trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Khiếu nại “Ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định”.
Như vậy UBND xã Đ ban hành văn bản trả lời đơn là không đúng trình tự, thẩm quyền và hình thức văn bản theo quy định của Luật khiếu nại năm 2011 và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
[3.2] Xét tính hợp pháp của Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Về hình thức và thẩm quyền và trình tự thủ tục ban hành:
Bà Nguyễn Thị T4 không nhất trí với Công văn 64/CV-UBND ngày 22/7/2020 và và Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ bà T4 có đơn gửi UBND huyện Y. Ngày 10/12/2020 Chủ tịch UBND huyện đã giao Ban Tiếp công dân và Thanh tra huyện về làm việc tại UBND xã Đ để giả quyết vụ việc và ban hành Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021. Tuy nhiên bà T4 vẫn tiếp tục có đơn gửi các cơ quan, đơn vị của Trung ương, tỉnh, huyện. Ngày 10/3/2023, thực hiện sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND huyện Y, Ban tiếp công dân huyện đã phối hợp với Thanh tra huyện, phòng Tài nguyên và môi trường, phòng Lao đông thương binh xã hội, UBND xã Đ tổ chức buổi làm việc với bà T4. Ngày 07/4/2023 UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh ban hành Văn bản số 539/UBND-NC về việc giải quyết đơn của bà Nguyễn Thị T4 thôn Đ, xã Đ, M, Hà Nội.
- Về nội dung:
Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đều có nội dung hướng dẫn công dân gửi đơn đến Toà án nhân dân các cấp để được xem xét, giải quyết.
Các chế độ liên quan đến thân nhân liệt sĩ được thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh thực hiện đối với thân nhân liệt sĩ gia đình, dòng họ giao thờ cúng liệt sĩ, quản lý Bằng Tổ quốc ghi công. Như vậy các chế độ liên quan đến liệt sĩ phải được chi trả cho bà Nguyễn Thị T4 là con đẻ duy nhất của liệt sĩ Nguyễn Hoa Đ và cụ Nguyễn Thị Lưu .
Phần thừa kế nếu có mà cụ L2 được hưởng từ bà T4 liên quan đến quyền lợi, tài sản mà bà T4 đang khởi kiện (người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà T4 là ông L, anh G, chị C) thì cụ L2 có quan điểm là cụ L2 xin nhận và cho lại toàn bộ cho ông Lê Thành L. Mọi nghĩa vụ liên quan đến việc nhận tài sản, quyền lợi này thì ông L thực hiện.
[4] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành L là có căn cứ. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành L.
[5] Về án phí:
Chủ tịch UBND tỉnh B, UBND tỉnh B, UBND xã T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, 32, 115, 116 và điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật khiếu nại năm 2011; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thành L bao gồm:
- Huỷ Văn bản số 539/UBND-NC ngày 07/4/2023 của UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Huỷ Văn bản số 517/UBND-NC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Huỷ Thông báo số 50/TB-UBND ngày 19/10/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Huỷ Văn bản số 64/CV-UBND ngày 22/7/2020 của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Về án phí: Chủ tịch UBND tỉnh B, UBND tỉnh B, UBND xã T mỗi đơn vị phải chịu 300.000 đồng án phí Hành chính sơ thẩm.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Nam |
Bản án số 58/2025/HC-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về yêu cầu huỷ văn bản trả lời đơn
- Số bản án: 58/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu huỷ Văn bản trả lời đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thành L
