|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2025/DS-ST Ngày: 30 - 9 - 2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liên
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển và ông Phùng Văn Thông
- - Thư ký phiên toà: Ông Dương Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2025/TLST - KDTM ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST – KDTM ngày 13 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Công ty Cổ phần M1; địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội (nay là phường C, thành phố Hà Nội).
- Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tiến T, bà Lê Thu T1 – Chuyên viên Xử lý nợ (theo Văn bản ủy quyền số 1082/2025/UQ-MARS ngày 15/02/2025); vắng mặt.
- Ngân hàng TMCP V1; địa chỉ: Tòa V, số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (nay là phường Đ, thành phố Hà Nội).
- Người đại diện hợp pháp: Ông Đào Tuấn V, ông Nguyễn Đức L – Chuyên viên Xử lý nợ của Ngân hàng TMCP V1 (theo Văn bản ủy quyền số 8286/2024/UQN-CTQT ngày 15/12/2024), vắng mặt.
Bị đơn:
- - Ông Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1968, vắng mặt.
- - Bà Thiều Thị B, sinh năm 1968, vắng mặt.
Đều cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1
- - Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số nhà C, ngõ A, phố P, phường P, thành phố H, tỉnh Ninh Bình (nay là phường H, tỉnh Ninh Bình), vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/11/2024, quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty Cổ phần M1 (gọi tắt là Công ty M1) và người đại diện Ngân hàng TMCP V1 (gọi tắt là V2) trình bày:
V2 và ông Nguyễn Văn Ư, bà Thiều Thị B đã ký Hợp đồng cho vay hạn mức số 10080697 ngày 29/11/2023 với nội dung: Số tiền vay là 2.500.000.000đ, thời hạn cho vay: 12 tháng; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh, mua bán, sản xuất đồ gỗ. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 7,49%/năm; lãi suất cho vay trong hạn được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không vượt quá 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Ư và bà B đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 848, tờ bản đồ số 06, diện tích 181m² tại thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ) theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNƠ & TSKGLVÐ số CR976553, số vào sổ cấp GCN: CS02152 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/09/2019 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Ư. Việc thế chấp tài sản đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ư, bà B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 30/04/2024. Tổng số tiền ông Ư, bà B đã trả được cho V2 là 77,500,394 đồng tiền lãi.
Ngày 30/09/2024, V2 đã bán 90% khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 10080697 ngày 29/11/2023 giữa V2 và ông Ư, bà B cho Công ty M1. Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M1 kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ của V2 phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay. Đồng thời, V2 tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với phần khoản nợ chưa bán cho Công ty M1.
2
Nay Ngân hàng và Công ty cổ phần M1 yêu cầu ông Ư, bà B phải thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 3.118.285.146 đồng, trong đó: Nợ gốc là 2.500.000.000đồng; nợ lãi trong hạn là 13.972.602đồng; nợ lãi quá hạn là 546.303.716đồng, nợ lãi chậm trả là 58.008.828đồng. Cụ thể như sau:
- Yêu cầu thanh toán cho Công ty M1 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 2.806.456.631 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.250.000.000đ; nợ lãi trong hạn: 12.575.342 đồng; nợ lãi quá hạn: 491.673.344đồng; nợ lãi chậm trả 52.207.945 đồng.
- Yêu cầu thanh toán cho V2 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 311.828.515đồng, trong đó: Nợ gốc: 250.000.000đ; nợ lãi trong hạn: 1.397.260 đồng; nợ lãi quá hạn: 54.630.372đồng; nợ lãi chậm trả: 5.800.883đồng.
Yêu cầu ông Ư, bà B phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng cho Công ty M1 và V2 kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025 cho đến khi thanh toán hết nợ với mức lãi suất quá hạn là 15,15%/năm trên khoản nợ gốc chưa thanh toán và mức lãi suất chậm trả là 10%/năm trên số tiền lãi chưa thanh toán. Trường hợp ông Ư, bà B không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty M1 và V2 đề nghị xử lý tài sản bảo đảm là 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số số 848, tờ bản đồ số 06, diện tích 181m² (theo diện tích thực tế sử dụng là 179,7m²) tại thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ) theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNƠ & TSKGLVĐ số CR976553, số vào sổ cấp GCN: CS02152 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/09/2019 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Ư. Nếu số tiền thu từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thu hồi nợ, ông Ư, bà B vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty M1 và V2 cho đến khi trả xong nợ bằng các nguồn thu và tài sản khác của mình.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Ư, bà B phải chịu toàn bộ.
Bị đơn Nguyễn Văn Ư, bà Thiều Thị B vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án ông Ư, bà B trình bày: Về thời gian ký kết hợp đồng, mục đích vay, phương thức cho vay, số tiền vay, lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn, thời hạn cho vay; số tiền lãi trong hạn đã trả; số tiền gốc, số tiền lãi trong hạn, số tiền lãi quá hạn chưa trả như đại diện V2 và Công ty M1 trình bày là đúng.
Để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng, ông, bà đã thế chấp tài sản là 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 848, tờ bản đồ số 06, diện tích 181m² tại thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ). Nay, Công ty M1 và V2 yêu cầu ông, bà phải trả nợ; quan điểm của ông, bà đồng ý trả nợ. Tuy nhiên, hiện nay gia đình ông bà gặp rất nhiều khó khăn
3
nên chưa thể có tiền để trả nợ ngay cho Ngân hàng và Công ty M1. Ông, bà đề nghị Ngân hàng và Công ty M1 cho ông, bà thêm thời gian để ông bà thu xếp trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp, ông bà không trả được nợ, ông, bà đồng ý xử lý tài sản bảo đảm để Ngân hàng và Công ty M1 thu hồi nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị M vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình giải quyết vụ án, chị M trình bày: Năm 2023, bố mẹ chị làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng TMCP V1. Tuy nhiên, số tiền vay cũng như thời hạn vay, lãi suất vay cụ thể như thế nào chị không biết. Để đảm bảo cho khoản vay tại ngân hàng, bố mẹ chị đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 848, tờ bản đồ số 06, diện tích 181m² tại thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại thời điểm thế chấp tài sản, cả gia đình chị gồm bố mẹ chị và hai chị em chị đều ký vào hợp đồng thế chấp tài sản để bố mẹ chị làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bố mẹ chị đã trả được bao nhiêu tiền và còn nợ Ngân hàng bao nhiêu tiền, chị không nắm được. Nay Ngân hàng V2 và Công ty M1 yêu cầu bố mẹ chị phải trả nợ và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nếu bố mẹ chị không trả được nợ, quan điểm của chị đề nghị Tòa án cho bố mẹ chị thêm thời gian để bố mẹ chị thu xếp trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bố mẹ chị không trả được nợ cho Ngân hàng, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ, đầy đủ nhưng vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và tại phiên tòa nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến, quan điểm của anh về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đại diện nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật. Bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M1 đối với ông Nguyễn Văn Ư, bà Thiều Thị B.
4
- - Buộc ông Nguyễn Văn Ư và bà Thiều Thị B phải trả cho Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 3.118.285.146đồng; trong đó: Nợ gốc là 2.500.000.000đồng, nợ lãi trong hạn là 13.972.602 đồng, lãi quá hạn là 546.303.716 đồng; lãi chậm trả là 58.008.828 đồng. Cụ thể:
- + Phải trả cho Công ty cổ phần M1 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 2.795.278.549 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.250.000.000đ; nợ lãi trong hạn: 12.575.342 đồng; nợ lãi quá hạn: 491.673.344đồng; nợ lãi chậm trả 52.207.945 đồng.
- + Phải trả cho Ngân hàng TMCP V2 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 323.006.597 đồng, trong đó: Nợ gốc: 250.000.000đ; nợ lãi trong hạn: 1.397.260 đồng; nợ lãi quá hạn: 54.630.372 đồng; nợ lãi chậm trả: 5.800.883 đồng.
Ông Ư, bà B phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01/10/2025) cho đến khi thanh toán hết nợ với mức lãi suất quá hạn là 15,15%/năm trên khoản nợ gốc chưa thanh toán và mức lãi suất chậm trả là 10%/năm trên số tiền lãi chưa thanh toán.
Trường hợp ông Ư, bà B không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng V2 có quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số số 848, tờ bản đồ số 06, diện tích 179,7m² tại thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ) theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNO & TSKGLVĐ số CR976553, số vào sổ cấp GCN: CS02152 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/09/2019 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Ư.
Nếu số tiền thu từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thu hồi nợ, ông Ư, bà B vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng V2 cho đến khi trả xong nợ.
Về án phí: ông Ư, bà B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét thấy, Công ty M1 và Ngân hàng V2 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Ư, bà Thiều Thị B trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Ban đầu, căn cứ vào lời khai của các đương sự cho rằng khoản vay nhằm bổ sung vốn kinh doanh, mua bán gỗ và Ngân hàng V2 xác nhận ông Nguyễn Văn Ư là hộ kinh doanh nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc loại vụ án kinh doanh thương mại theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
5
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc có đăng ký kinh doanh. Do đó, trong vụ án này, mặc dù mục đích vay là để kinh doanh, nhưng bị đơn là cá nhân, hộ gia đình không chứng minh được đã đăng ký kinh doanh, nên không đủ căn cứ để xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn và tài sản thế chấp ở tại xã V, tỉnh Phú Thọ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị M vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Ngày 30/9/2024, V2 ký hợp đồng chuyển nhượng một phần khoản nợ cho Công ty Cổ phần M1. Theo quy định tại Điều 365, 366 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Thông tư 09/2015/TT-NHNN về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, bên mua nợ kế thừa quyền, nghĩa vụ của bên bán đối với phần khoản nợ được chuyển nhượng kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực. Như vậy, Công ty M1 có quyền yêu cầu ông Ư, bà B thanh toán phần nợ đã mua; V2 vẫn là chủ nợ đối với phần nợ chưa chuyển nhượng. Do đó, cả hai nguyên đơn đều có tư cách khởi kiện hợp pháp.
[3] Về nội dung khởi kiện:
[3.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty M1 và V2, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng cho vay hạn mức số 10080697 ngày 29/11/2023 giữa V2 và ông Ư, bà B được các bên ký kết hợp pháp. Nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức phù hợp với Điều 117, 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Các tổ chức tín dụng nên phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bên. Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ và ông Ư, bà B đã nhận tiền vay và thanh toán một tiền lãi cho Ngân hàng. Tuy nhiên, kể từ ngày 30/4/2024, ông Ư, bà B không tiếp tục trả nợ, dẫn đến toàn bộ khoản vay bị chuyển quá hạn.
Tính đến ngày 30/9/2025, ông Ư, bà B còn nợ V2 và Công ty M1 tổng số tiền là 3.118.285.146đồng; trong đó: Nợ gốc là 2.500.000.000đồng, nợ lãi trong hạn là 13.972.602 đồng, lãi quá hạn là 546.303.716 đồng; lãi chậm trả là 58.008.828 đồng. V2 và Công ty M1 yêu cầu ông Ư, bà B phải trả tổng số tiền như đã nêu ở trên và đề nghị tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả nợ xong là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
6
Về lãi suất, Hợp đồng cho vay hạn mức số 10080697 ngày 29/11/2023 giữa V2 và ông Ư, bà B có quy định cụ thể về mức lãi suất cho vay, nguyên tắc điều chỉnh lãi suất, cách tính lãi và phương thức trả nợ. Các điều khoản này được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017) về quyền thỏa thuận lãi suất giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay; đồng thời mức lãi suất không vượt quá giới hạn được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, việc Ngân hàng và Công ty M1 yêu cầu tính lãi theo đúng hợp đồng là có cơ sở chấp nhận.
Tại thời điểm xét xử, mức lãi suất cho vay của hợp đồng tín dụng mà Ngân hàng Đ đang áp dụng đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số 10080697 ngày 29/11/2023 là 10,1%/năm, lãi suất quá hạn là 15,15%/năm; lãi suất chậm trả là 10%/năm là phù hợp với quy định của pháp luật.
Do vậy theo hướng dẫn tại khoản 1, 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Ư, bà B còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 10080697 ngày 29/11/2023 với mức lãi suất quá hạn trên dư nợ gốc chưa thanh toán là 15,15%/năm và mức lãi suất chậm trả 10%/năm đối với dư nợ lãi chậm trả.
[3.2]. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất theo Hợp đồng thế chấp ngày 25/12/2019 cùng các Phụ lục hợp đồng thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ trong trường hợp ông Ư, bà B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.
Xét thấy, hợp đồng thế chấp và phụ lục hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng và ông Ư, bà B là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Do đó, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ ngày đăng ký giao dịch bảo đảm nên Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Kết quả xem xét, thẩm định cho thấy thửa đất số 848, tờ bản đồ số 6, có diện tích sử dụng thực tế là 179,7m² (giảm 1,3m² so với diện tích được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất cấp ngày 27/9/2019) . Qua xác minh tại địa phương và làm việc với bị đơn đều xác nhận hiện nay các hộ giáp ranh đối với thửa đất nêu trên đều sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Các bên đương sự đều đề nghị Tòa án xem xét giải
7
quyết cho xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất cùng tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích thực tế sử dụng là 179,7m².
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Ngân hàng và Công ty M1, trong trường hợp ông Ư, bà B không trả được nợ sẽ phát mại tài sản thế chấp của ông Ư, bà B là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa số 848, tờ bản đồ số 6, diện tích 179,7m² tại thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ. Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, ông Ư, bà B vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và Công ty M1 cho đến khi trả hết nợ.
[4] Về chi phí tố tụng: Do nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Ư, bà Thiều Thị B phải chịu án phí có giá ngạch là 72.000.000đ + 2% (3.118.285.146₫ - 2.000.000.000₫) = 94.365.702đ (làm tròn 94.365.000 đồng). V2 và Công ty M1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, 74, 144, 147, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp và người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào Điều 280, 463, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự; Điều 90, 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M1 đối với ông Nguyễn Văn Ư, bà Thiều Thị B.
1. Buộc ông Nguyễn Văn Ư và bà Thiều Thị B phải trả cho Công ty Cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 3.118.285.146đồng; trong đó: Nợ gốc là 2.500.000.000đồng, nợ lãi trong hạn là 13.972.602 đồng, lãi quá hạn là 546.303.716 đồng; lãi chậm trả là 58.008.828 đồng. Cụ thể:
8
- +Phải trả cho Công ty cổ phần M1 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 2.795.278.549 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.250.000.000đ; nợ lãi trong hạn: 12.575.342 đồng; nợ lãi quá hạn: 491.673.344đồng; nợ lãi chậm trả 52.207.945 đồng.
- +Phải trả cho Ngân hàng TMCP V2 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 323.006.597đồng, trong đó: Nợ gốc: 250.000.000đ; nợ lãi trong hạn: 1.397.260 đồng; nợ lãi quá hạn: 54.630.372đồng; nợ lãi chậm trả: 5.800.883đồng.
Ông Ư, bà B phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng TMCP V1 kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01/10/2025) cho đến khi thanh toán hết nợ với mức lãi suất quá hạn là 15,15%/năm trên khoản nợ gốc chưa thanh toán và mức lãi suất chậm trả là 10%/năm trên số tiền lãi chưa thanh toán.
2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp ông Ư, bà B không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng V2 có quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số số 848, tờ bản đồ số 06, diện tích 179,7m² tại thôn T, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn T, xã V, tỉnh Phú Thọ) theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNƠ & TSKGLVĐ số CR976553, số vào sổ cấp GCN: CS02152 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 27/09/2019 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn Ư. (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Nếu số tiền thu từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thu hồi nợ, ông Ư, bà B vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần M1 và Ngân hàng V2 cho đến khi trả xong các khoản nợ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Ư, bà Thiều Thị B phải chịu 94.365.000 đồng (Chín mươi tư triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại Công ty cổ phần M1 số tiền tạm ứng án phí 40.458.000 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0005313 ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Phú Thọ);
Trả lại Ngân hàng TMCP V1 số tiền tạm ứng án phí 6.828.000đồng (Sáu triệu tám trăm hai mươi tám nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0005314 ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Phú Thọ).
4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Liên |
9
10
Bản án số 58/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 58/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
