|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày: 26-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Phi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Dân An;
- Bà Đỗ Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Lê Ngọc Hân, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Phan Thanh Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Đặng Lê Trần L (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 09 tháng 12 năm 1981, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp B, xã C, tỉnh Tây Ninh) và nơi ở hiện tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh). Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Trần D (đã chết) và bà Lê Thị Kim H (đã chết); Vợ Diệp Thị Thanh N (đã ly hôn), con: 01 người sinh năm 2016; em ruột: 01 người.
Tiền án: Bản án số 46/2018/HSST ngày 04-7-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20-01-2023.
Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-6-2025, tạm giam từ ngày 21-6-2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực VII thuộc Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
1
2
2. Nguyễn Thị D1 (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 15 tháng 8 năm 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: B P, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) và nơi ở hiện tại: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp B, xã C, tỉnh Tây Ninh). Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị T, sinh năm 1972. Chồng Nguyễn Hùng S1 (đã ly hôn), con: 02 người lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021; Anh ruột: 01 người.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-6-2025, tạm giam từ ngày 21-6-2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực VII thuộc Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 12-6-2025, Nguyễn Thị D1 đến phòng trọ của Đặng Lê Trần L tại khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh) để chơi. Tại đây, D1 thấy trên bàn trong phòng trọ của L có sẵn bộ dụng cụ để sử dụng chất ma túy nên L rủ D1 cùng sử dụng chất ma túy, D1 đồng ý. L lấy bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy lên tự đốt chất ma túy và hút trước, Lâm hút xong thì D1 lấy tự đốt chất ma túy lên và hút được 02 hơi thì nghỉ. Sau khi sử dụng chất ma túy xong, D1 xin Lâm phần chất ma túy để sử dụng, L đồng ý và lấy chất ma túy cất giấu trong thùng loa sớt ra một ít bỏ vào đoạn ống hút nhựa và đưa cho D1. Khi D1 cầm trong tay một khẩu trang được cuộn lại bên trong có 01 ống hút nhựa chứa chất ma tuý và ra khỏi phòng thì bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là Công an phường T, tỉnh Tây Ninh) kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ 01 đoạn ống hút màu trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa chất rắn màu trắng (kí hiệu M1). Tiến hành kiểm tra trong phòng của Đặng Lê Trần L phát hiện và thu giữ trên gác lửng phòng trọ: 01 loa nghe nhạc bên trong có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất rắn màu trắng và 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba đầu một đầu kẹp trên bịch nylon có chữ “THỊNH” màu đỏ bên trong có chứa chất rắn màu trắng (kí hiệu M2); 02 phễu thủy tinh chứa chất rắn màu nâu (kí hiệu M3); 01 chai nhựa nắp màu đỏ được dán trên hộp mỹ phẩm màu bạc có chữ TH WHITE, nắp chai có gắn 01 ống hút màu trắng cam cùng nhiều đồ vật có liên quan.
Quá trình điều tra xác định, sáng ngày 08-6-2025, Đặng Lê Trần L đi đến khu vực ngã 3 V thuộc xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là xã C, tỉnh Tây Ninh) tìm gặp người tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 02 bịch chất ma tuý với số tiền 4.000.000 đồng và đem về phòng trọ cất giữ với mục đích sử dụng và bán lại cho người khác. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Đức B,
3
sinh năm 1991, trú trú ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp B, xã H, tỉnh Tây Ninh) gọi điện thoại cho L hỏi mua chất ma túy với số tiền 400.000 đồng, L đồng ý và hẹn giao chất ma tuý cho Bộ ở đầu hẻm B đường Q thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh). Đến tối ngày 11-8-2025, L lấy chất ma tuý cho vào phễu thuỷ tinh sử dụng một mình nhưng sử dụng chưa hết, số chất ma tuý còn lại trong phễu thuỷ tinh L cất giữ để sử dụng dần.
Ngày 12-6-2025, xét nghiệm chất ma túy loại Methamphetamine đối với Đặng Lê Trần L, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Đức B kết quả dương tính.
Kết luận giám định số 999/KL-KTHS ngày 16-6-2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu chất tinh thể rắn (ký hiệu M1) bên trong 01 đoạn ống hút màu trắng hàn kín hai đầu gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2062 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn (ký hiệu M2) bên trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba đầu và 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba đầu, một đầu kẹp trên bịch nylon có chữ “THỊNH” màu đỏ gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng 14,9703 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn (ký hiệu M3) bên trong 02 phễu thuỷ tinh gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng 0,2058 gam.
Quá trình điều tra, các bị can Đặng Lê Trần L, Nguyễn Thị D1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đặng Lê Trần L đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng nên hành vi lần này là tái phạm nguy hiểm.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bảng thống kê kèm theo.
Qua xác minh, các bị cáo Đặng Lê Trần L, Nguyễn Thị D1 không có tài sản nên không kê biên.
Tại Bản cáo trạng số 32/CT-VKSKV10 ngày 11-9-2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh truy tố các bị cáo: Đặng Lê Trần L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Thị D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh trình bày bản luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
4
- - Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Lê Trần L từ 07 năm đến 08 năm tù.
- - Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Lê Trần L từ 07 năm đến 08 năm tù.
- - Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Lê Trần L từ 05 năm đến 06 năm tù.
- - Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.
- - Tuyên bố bị cáo D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D1 từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.
Các bị cáo không tranh luận, không trình bày lời bào chữa.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi của bị các cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện C (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh), Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện:
Để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, Đặng Lê Trần L mua chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 14,9703 gam về sử dụng và bán lại cho người nghiện khác; trong đó đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đức B 01 lần vào ngày 08-6-2025. Ngoài ra, vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 12-6-2025 tại nhà trọ thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh), Đặng Lê Trần L có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị D1, tàng trữ để sử dụng 0.2062 gam và sau khi sử
5
dụng chất ma túy xong L đưa cho D1 01 đoạn ống hút bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2058 gam để mang về nhà sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của Đặng Lê Trần L, Nguyễn Thị D1 là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Xét thấy, các bị cáo Đặng Lê Trần L và Nguyễn Thị D1 đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo L đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo L tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo D1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, các bị cáo bị truy tố, xét xử là không có oan, sai cho các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, quy định pháp luật.
[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo L tự thú hành vi bán ma túy nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự thú theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là nguyên nhân làm lây lan tệ nạn nghiện hút, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và trật tự trị an tại địa phương, trong hành vi tang trữ trái phép chất ma túy các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Bị cáo L có nhân thân xấu vào ngày 05-4-2004, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành
6
xong hình phạt tù ngày 17-6-2011, đã chấp hành xong toàn bộ bản án (được xóa án tích)và 01 tiền án ngày 04-7-2018, Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20-01-2023. Bị cáo L tổ chức cho bị cáo D1 sử dụng ma túy và cho bị cáo D1 0,2062 gam để sử dụng nên bị cáo L có vai trò chính trong vụ án, khi quyết định hình phạt cần xem xét phù hợp với vai trò từng bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ chất ma tuý còn lại sau giám định và bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, những vật không có giá trị sử dụng gồm:
- 01 (một) khẩu trang màu tím.
- 01 (một) cái loa, màu nâu - bạc (bị hư), trên loa có chữ “SeaPiano”.
- 01 (một) chai nhựa dán trên hộp mỹ phẩm màu bạc có chữ TH WHITE, chai nhựa có nắp màu đỏ băng nhựa khoét 02 lỗ tròn, một lỗ cắm ống hút màu trắng cam.
- 01 (một) cân tiểu ly.
- 01 (một) kéo, loại kéo cắt chỉ.
- 01 (một) ống hút màu trắng.
- 01 (một) đoạn ống hút màu trắng bị cắt 01 đầu nhọn.
- 01 (một) hột quẹt, màu đỏ.
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ số 999/M1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Hữu T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ sô 999/M2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Hữu T2 và dâu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ số 999/M3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Hữu T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước công cụ dùng vào việc phạm tội gồm:
- 01 (một) điện thoại di động, hiệu S2, màu xanh, số Imei 353842194228936, gắn sim Vietnammobile trên sim có số 8984050924 1743140914 (số thuê bao 0583425693 ), gắn sim Vinaphone trên sim có số [...] 1142203 1946 (số thuê bao 0917232871).
- 01 (một) điện thoại di động, hiệu S2 A04, màu đen, số I: 350596925746243. Điện thoại gắn một sim Mobiphone trên sim có số 8401
7
2408 5025 3068 WD (số thuê bao 0793786681), gắn sim trên sim có số 8401 2308 1215 1026 IDE (số thuê bao 0896704878).
- 01 (một) bì thư được niêm phong, có chữ ký của giám định viên Phạm Thị Minh N2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) so sêri SO 19200398.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-8-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Tây Ninh).
[7] Đối với người đàn ông tên T1 bán chất ma túy cho Đặng Lê Trần L, không xác định được nhân thân, địa chỉ nên chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đặng Lê Trần L, Nguyễn Thị D1, Nguyễn Đức B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển hồ sơ đến Công an phường T xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lâm D2 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Đặng Lê Trần L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đặng Lê Trần L 08 (tám) năm tù.
- Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Đặng Lê Trần L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đặng Lê Trần L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng.
- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự sự, tuyên bố bị cáo Đặng Lê Trần L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đặng Lê Trần L 05 (năm) năm tù.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Đặng Lê Trần L phải chấp hành hình phạt chung của ba tội là 20 (hai mươi) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-6-2025.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-6-2025.
8
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ chất ma tuý còn lại sau giám định và bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, những vật không có giá trị sử dụng gồm:
- 01 (một) khẩu trang màu tím.
- 01 (một) cái loa, màu nâu - bạc (bị hư), trên loa có chữ “SeaPiano”.
- 01 (một) chai nhựa dán trên hộp mỹ phẩm màu bạc có chữ TH WHITE, chai nhựa có nắp màu đỏ băng nhựa khoét 02 lỗ tròn, một lỗ cắm ống hút màu trắng cam.
- 01 (một) cân tiểu ly.
- 01 (một) kéo, loại kéo cắt chỉ.
- 01 (một) ống hút màu trắng.
- 01 (một) đoạn ống hút màu trắng bị cắt 01 đầu nhọn.
- 01 (một) hột quẹt, màu đỏ.
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ sô 999/M1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Hữu T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ sô 999/M2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Hữu T2 và dâu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ số 999/M3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Hữu T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước công cụ dùng vào việc phạm tội gồm:
- - 01 (một) điện thoại di động, hiệu S2, màu xanh, số Imei 353842194228936, gắn sim Vietnammobile trên sim có số 8984050924 1743140914 (số thuê bao 0583425693), gắn sim Vinaphone trên sim có số [...] 1142203 1946 (số thuê bao 0917232871).
- - 01 (một) điện thoại di động, hiệu S2 A04, màu đen, số I: 350596925746243. Điện thoại gắn một sim Mobiphone trên sim có số 8401 2408 5025 3068 WD (số thuê bao 0793786681), gắn sim trên sim có số 8401 2308 1215 1026 IDE (số thuê bao 0896704878).
- - 01 (một) bì thư được niêm phong, có chữ ký của giám định viên Phạm Thị Minh N2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) so sêri SO 19200398.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-8-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Tây Ninh).
9
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Đặng Lê Trần L và Nguyễn Thị D1 mỗi bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Linh Phi |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH về vụ án hình sự
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
