Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 56/2025/HNGĐ-PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 18-12-2025

V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

  1. Bà Phạm Thị Hồng Vân
  2. Ông Nguyễn Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 41/2025/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 21/2025/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đào Hồng T, sinh năm: 1983.

    Địa chỉ cư trú: số G, C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1975 (Văn bản ủy quyền ngày 08/4/2024).

    Địa chỉ cư trú: số B, Lô B, đường P, phường G, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là đường P, khu phố E, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).

  2. Bị đơn: Ông Bùi Minh T1, sinh năm 1984.

    Địa chỉ cư trú: số G, đường N, phường D, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Người đại diện theo ủy quyền của ông T1: Ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm 2000 (văn bản ủy quyền ngày 03/7/2024)

    Địa chỉ: Số C, đường Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí minh).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1: Luật sư Phan Thị Thanh T3 - Công ty L - Đoàn luật sư Thành phố H.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP K chi nhánh N1 (nay là chi nhánh N2).

    Địa chỉ: số A, dự án khu nhà ở phân khu S, Nguyễn Hựu T4, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số A, đường số I, khu dân cư T, ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hữu N - Chức vụ: Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1987 (văn bản ủy quyền ngày 08/7/2024).

    Địa chỉ: số A, Lô B, phân khu A, đường N, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Người kháng cáo: ông Bùi Minh T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hữu P trình bày:

Bà Đào Hồng T và ông Bùi Minh T1 trước đây là vợ chồng. Vào năm 2019, vợ chồng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 73/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2019 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi ly hôn vợ chồng đã thỏa thuận trước với nhau theo biên bản thỏa thuận ngày 20/12/2018. Theo biên bản thỏa thuận bà T sẽ nuôi con, ông T1 cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng, vợ chồng có 01 con chung hiện đang do bà T nuôi dưỡng. Về tài sản chung bà T sẽ được nhận tài sản chung là thửa đất số 1214, 1011 cùng thuộc tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Bà T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K chi nhánh N1 số tiền nợ 600.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi ly hôn ông T1 không thực hiện như đã thỏa thuận, không cấp dưỡng cho con đầy đủ. Số tiền nợ gốc, nợ lãi của Ngân hàng đều do một mình bà T trả. Ông T1 cũng không chấp nhận giao các thửa đất trên cho bà T. Đối với tài sản là 02 thửa đất trên là tài sản chung của vợ chồng, tuy nhiên tiền mua đất là do cầm cố tài sản của cha mẹ bà T để mua. Do đó, công sức đóng góp của bà T vào tài sản chung lớn hơn ông T1 nhiều lần, nay bà T khởi kiện yêu cầu:

Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bao gồm: Thửa đất số 1124 và thửa đất số 1001, cùng tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Bà yêu cầu được nhận 85% giá trị tài sản và được nhận toàn bộ 02 thửa đất như các bên đã thỏa thuận. Ông T1 được nhận 15% giá trị tài sản, bà đồng ý hoàn lại tiền chênh lệch cho ông T1.

Về nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có nợ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K chi nhánh N1 số tiền 600.000.000 đồng. Hiện tại bà T đã trả toàn bộ số nợ gốc và lãi trên cho Ngân hàng theo như các bên đã thỏa thuận, tổng số tiền bà T trả cho Ngân hàng là 979.415.329 đồng. Trước đây bà đồng ý chịu toàn bộ. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông T1 trả lại một nửa số tiền nợ chung cho bà T.

Đối với trích đo bản đồ địa chính và chứng thư thẩm định giá bà T thống nhất và đồng ý sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án.

Bị đơn ông Bùi Minh T1 do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Trọng T2 trình bày:

Đối với quá trình hôn nhân và ly hôn đúng như lời bà T trình bày. Sau khi hai vợ chồng ly hôn ông T1 có cấp dưỡng nuôi con được một thời gian, tháng nào khó khăn thì không cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, con chung đang ở với bà T và do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với tài sản chung và nợ chung cũng như nguồn gốc tài sản chung đúng như lời bà T đã trình bày. Trước đây, vợ chồng có thỏa thuận để lại tài sản chung cho bà T, nhưng nay ông T1 thay đổi ý kiến yêu cầu được chia đôi mỗi người 50% giá trị tài sản chung đối với số tiền nợ gốc và lãi bà T đã trả cho Ngân hàng, ông đồng ý chịu một nửa số tiền bà T đã trả sau khi ly hôn. Ông T1 yêu được nhận tài sản chung bằng giá trị là tiền. Ông đồng ý giao đất cho bà T.

Đối với trích đo bản đồ địa chính và chứng thư thẩm định giá ông T1 thống nhất và đồng ý sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP K chi nhánh N1 (nay là chi nhánh N2) do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngân hàng TMCP K chi nhánh N1 cho bà T và ông T5 vay số tiền nợ gốc là 600.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 033/17/HĐTD/2800-5759 ngày 25/4/2017. Tài sản thế chấp là thửa đất số 1192, tờ bản đồ số 16 tại khu phố B, Phường A, Thị xã D theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 033/17/HĐTC-BĐS/2800-5759 ngày 25/4/2017. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà T đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi đầy đủ, số tiền trả nợ trích từ tài khoản của bà T. Tuy nhiên do tài sản các bên tranh chấp trong vụ án này không phải là tài sản thế chấp tại ngân hàng và các bên cũng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên trong vụ án này Ngân hàng không có tranh chấp, yêu cầu gì. Ngân hàng yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Tại văn bản số 04/CV-CNSG ngày 28/7/2025, Ngân hàng có ý kiến: Hiện tại bà T và ông T1 đã tất toán toàn bộ khoản vay trên tại Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh N2. Tổng số tiền nợ gốc bà T trả là 600.000.000 đồng, nợ lãi 379.415.329 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 979.415.329 đồng. Ngân hàng không còn liên quan gì trong vụ án.

Tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh đã tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn” của bà Đào Hồng T đối với ông Bùi Minh T1.

  1. Về tài sản chung:

    Giao cho bà Đào Hồng T thửa đất số 1124, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 110978, số vào sổ CS07578 thuộc tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 26/12/2016 chỉnh lý biến động sang cho ông Bùi Minh T1 theo hồ sơ số 005736.CN.001 ngày 28/4/2017.

    Giao cho ông Bùi Minh T1 thửa đất số 1001, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 979285, số vào sổ CS07734 tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 30/12/2016 chỉnh lý biến động sang cho ông Bùi Minh T1 theo hồ sơ số 008284.CN.001 ngày 28/4/2017.

    Vị trí, diện tích cụ thể của các thửa đất được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 28/2025 ngày 22/01/2025 của Công ty TNHH D đo vẽ được Chi nhánh Văn phòng đang ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 24/01/2025.

    Sau khi án có hiệu lực pháp luật bà T, ông T1 được liên hệ với cơ quan chức năng để làm thủ tục điều chỉnh, chỉnh lý biến động và lập các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

    Buộc ông Bùi Minh T1 có nghĩa vụ trả cho bà Đào Hồng T số tiền 750.501.400 đồng giá trị chênh lệch trong phần tài sản chung ông T1 được nhận.

  2. Về nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, ông Bùi Minh T1 có nghĩa vụ trả cho bà Đào Hồng T số tiền nợ chung trong thời kỳ hôn nhân là 489.707.665 đồng.
  3. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, ông Bùi Minh T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Đào Hồng T chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ 15.000.000 đồng.
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đào Hồng T phải chịu 77.306.060 đồng án phí chia tài sản chung sau ly hôn. Trừ đi số tiền 30.000.000 đồng bà T đã nộp theo biên lai thu số 0000511, ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Tây Ninh) sang thi hành án phí. Bà T còn phải nộp số tiền án phí 47.306.060 đồng. Ông Bùi Minh T1 phải chịu 34.204.040 đồng án phí chia tài sản chung, 23.588.307 đồng án phí nợ chung.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.

Ngày 28/08/2025 ông Bùi Minh T1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia cho ông T1 ½ giá trị tài sản chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bên đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bà Đào Hồng T và người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Minh T1 là ông Nguyễn Trọng T2 đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Đề nghị, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục:

[1.1] Đơn kháng cáo của ông Bùi Minh T1 được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc có mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt nên Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: ông Bùi Minh T1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia cho ông T1 ½ giá trị tài sản chung. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo của ông T1.

[2.1] Xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm bà Đào Hồng T và người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Minh T1 là ông Nguyễn Trọng T2 đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án cụ thể như sau:

[2.2] Bà Đào Hồng T được tiếp tục quản lý và sử dụng hai thửa đất số 1124, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 110978, số vào sổ CS07578 thuộc tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 26/12/2016 chỉnh lý biến động sang cho ông Bùi Minh T1 theo hồ sơ số 005736.CN.001 ngày 28/4/2017 và thửa đất số 1001, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 979285, số vào sổ CS07734 tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 30/12/2016 chỉnh lý biến động sang cho ông Bùi Minh T1 theo hồ sơ số 008284.CN.001 ngày 28/4/2017.

Vị trí, diện tích cụ thể của các thửa đất được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 28/2025 ngày 22/01/2025 của Công ty TNHH D đo vẽ được Chi nhánh Văn phòng đang ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 24/01/2025.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Đào Hồng T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết vụ án. Buộc ông Bùi Minh T1 giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại hai thửa đất số 1124. 1001. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

[2.3] Bà Đào Hồng T có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Minh T1 số tiền 1.057.142.000đồng (35%), giá trị phần tài sản chung ông T1 được chia.

[2.4] Về nợ chung: ông Bùi Minh T1 có nghĩa vụ trả cho bà Đào Hồng T số tiền nợ chung trong thời kỳ hôn nhân là 342.796.000đồng (35%), giá trị phần nợ chung trong thời kì hôn nhân.

[2.6] Về chi phí tố tụng: ông Bùi Minh T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Đào Hồng T số tiền 19.500.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định.

[4] Từ những phân tích trên: Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của ông Bùi Minh T6 có căn cứ chấp nhận một phần, cần sửa một phần bản án sơ thẩm.

[5] Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại Tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm: ông Bùi Minh T1 không phải chịu án phí do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của: ông Bùi Minh T1.

Sửa Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh.

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 296, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 33, Điều 37, Điều 38, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6, Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bà Đào Hồng T và ông Bùi Minh T1 có người đại diện là Nguyễn Trọng T2.

  1. Bà Đào Hồng T được tiếp tục quản lý và sử dụng hai thửa đất số 1124, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 110978, số vào sổ CS07578 thuộc tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 26/12/2016 chỉnh lý biến động sang cho ông Bùi Minh T1 theo hồ sơ số 005736.CN.001 ngày 28/4/2017 và thửa đất số 1001, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 979285, số vào sổ CS07734 tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 30/12/2016 chỉnh lý biến động sang cho ông Bùi Minh T1 theo hồ sơ số 008284.CN.001 ngày 28/4/2017.

    Vị trí, diện tích cụ thể của các thửa đất được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 28/2025 ngày 22/01/2025 của Công ty TNHH D đo vẽ được Chi nhánh Văn phòng đang ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 24/01/2025.

    Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Đào Hồng T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết vụ án. Buộc ông Bùi Minh T1 giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại hai thửa đất số 1124. 1001. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

  2. Bà Đào Hồng T có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Minh T1 số tiền 1.057.142.000đồng, giá trị phần tài sản chung ông T1 được chia.
  3. Về nợ chung: ông Bùi Minh T1 có nghĩa vụ trả cho bà Đào Hồng T số tiền nợ chung trong thời kỳ hôn nhân là 342.796.000đồng.
  4. Về chi phí tố tụng: ông Bùi Minh T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Đào Hồng T số tiền 19.500.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đào Hồng T phải chịu 51.800.000 đồng án phí chia tài sản chung. Khấu trừ vào số tiền 30.000.000 đồng bà T đã nộp theo biên lai thu số 0000511, ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Tây Ninh) sang thi hành án phí. Bà T còn phải nộp tiếp số tiền án phí là 21.800.000đồng. Ông Bùi Minh T1 phải chịu 32.574.000đồng án phí tài sản được nhận sau khi đã khấu trừ nợ.
  2. Về án phí Hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Ông Bùi Minh T1 không phải chịu. Hoàn trả cho ông T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 theo biên lai thu số 0004899 ngày 23/9/2025, của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Tây Ninh.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Vân – Nguyễn Quốc Tuấn

Phùng Thị Cẩm Hồng

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND khu vực 7 - Tây Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 7 - Tây Ninh;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HNGĐ-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn

  • Số bản án: 56/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ghi nhận sự thỏa thuận, tự nguyện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger