|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14/11/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Huy;
- Ông Nguyễn Công Danh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh-Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- Tây Ninh.
Trong ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh, Tòa án nhân dân khu vực 7- Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2025/TLST-HNGĐ, ngày 08/10/2025, về “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm: 1990, cư trú: Ấp K, xã C, tỉnh Tây Ninh (Bà Á có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Võ Hoàng M, sinh năm: 1985, cư trú: Ấp C, xã P, tỉnh Tây Ninh (Ông M có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Á trình bày:
Bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Hoàng M1 cưới nhau năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh (cũ). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, chăm sóc yêu thương. Thời gian sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, hạnh phúc gia đình không thể kéo dài. Anh M1 có tiền án trộm cắp tài sản, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bà Á khắc phục hậu quả cho ông M1 nhiều lần. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 10/2024 đến nay. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà Á yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Bà Á yêu cầu ly hôn với ông M1
Về con chung: Bà Á và ông M1 có con chung Võ Minh T, sinh ngày 16/3/2009. Bà Á đồng ý nếu Tòa án cho ly hôn thì con chung do ông M1 nuôi dưỡng, bà Á không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết
Bị đơn ông M1 đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Bị đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt và yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không tiến hành hòa giải được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn và yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7- Tây Ninh được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 của các Điều 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án;
Bà Á, ông M1 có văn bản xin giải quyết vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà Á, ông M1.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 193 ngày 03/11/2008 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh (cũ) cấp thì bà Nguyễn Thị Á và ông Võ Hoàng M là vợ chồng hợp pháp.
[2.2] Bà Á và ông M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh (cũ). Hôn nhân dựa trên sự tự nguyện, thời gian đầu ông, bà sống chung hạnh phúc. Nguyên nhân bà Á xin ly hôn là do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Bà Á khắc phục hậu quả cho ông M nhiều lần. Bà M, ông Á không còn sống chung từ tháng 10/2024 đến nay. Trong thời gian không sống chung, vợ chồng không có giải pháp đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà Á, ông M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Á là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.3] Về con chung: Bà Á và ông M có con chung Võ Minh T, sinh ngày 16/3/2009. Bà Á đồng ý nếu Tòa án cho ly hôn thì con chung do ông M nuôi dưỡng, bà Á không cấp dưỡng nuôi con. Cháu T có nộp bản tự khai xác định cháu muốn sống với ông M. Hiện cuộc sống của cháu T ổn định, đang học ở trường Cao đẳng nghề. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao ông M trực tiếp nuôi dưỡng Võ Minh T. Việc giao con chung là cháu T cho ông M nuôi dưỡng phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông M không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Á xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về án phí: Bà Á phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Tạm ứng án phí bà Á đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 00006138, ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh chuyển sang án phí sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 và 86 của Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Á đối với ông Võ Hoàng M.
- 1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Á được ly hôn với ông Võ Hoàng M.
- 2. Về con chung: Ông Võ Hoàng M trực tiếp dưỡng nuôi con chung là Võ Minh T, sinh ngày 16/3/2009, bà Á không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: Bà Á phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Tạm ứng án phí bà Á đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 00006138, ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh chuyển sang án phí sung quỹ Nhà nước.
Án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Vân |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tr yêu cầu ly hôn anh H
