Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - BẮC NINH

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày 18/12/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại; bà Nguyễn Thị Tám.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Quân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Dương Minh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 18/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST-HS, ngày 12/11/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS, ngày 03/12/2025 đối với các bị cáo.

1. Họ và tên: Đặng Văn K, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn P, xã Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn K1 và bà Đặng Thị H; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Hoàng Thị N, sinh năm 1999; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra quyết định khởi tố bị can đối với K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, trong vụ án hình sự theo Quyết định khởi tố vụ án số 540 ngày 20/7/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T, Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh B (có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Xuân D, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị T1; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Vi Thị Lan H1, sinh năm 1994; có 01 con sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh B (có mặt).

3. Họ và tên: Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Việt D1 và bà Nguyễn Thị L; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; có chồng: Hà Duy K2, sinh năm 1991 (đã ly hôn năm 2017); có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh B (có mặt).

4. Họ và tên: Trần Phú L1, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phú L2 và bà Nguyễn Thị T2; gia đình có 08 chị em, bị cáo là con thứ tám; có vợ Dương Thị M, sinh năm 1994; có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2018/HSST ngày 14/6/2018 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt Trần Phú L1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung 10.000.000 đồng. Ngày 14/10/2025 gia đình bị cáo đã nộp 9.755.000đ tiền phạt tại Biên lai số 0000712 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh B (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Trần Phú L1: Ông Trịnh Huỳnh Q và ông Đinh Đức D2 - Luật sư của Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ: Xã Đ, thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 ngày 17 tháng 7 năm 2025, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã Y, tỉnh Bắc Ninh kiểm tra khu nhà trọ của anh Nguyễn Văn D3, sinh năm 1989; địa chỉ tại thôn Y, xã Y, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện tại phòng số 02 bên tay phải tính từ phía cổng vào là phòng do Nguyễn Xuân D, sinh năm 1993, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (viết tắt là HKTT): Thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh thuê, trong phòng có Nguyễn Xuân D và Đặng Văn K, sinh năm 1995, nơi đăng ký HKTT tại thôn P, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

Vật chứng thu giữ tại nền phòng:

  • - 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ được đục hai lỗ bên trên hai lỗ có cắm ống hút màu cam, ống còn lại màu vàng đầu ống có quấn giấy bạc.
  • - 01 mảnh giấy bạc bên trên bề mặt có chất bám dính màu đen.
  • - 01 bật lửa màu đỏ (đã qua sử dụng).
  • - 01 túi nilon màu trắng bên trong có chất bám dính chất tinh thể màu trắng, D và K khai nhận là ma túy tổng hợp (ma túy “đá”).

Lực lượng Công an đã thu giữ và niêm phong vật chứng, lập biên bản sự việc, sau đó đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, tổ công tác tiến hành xét nghiệm nước tiểu của K, D, kết quả đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Cùng ngày 17/7/2025, Đặng Văn K và Nguyễn Xuân D xin đầu thú, khai nhận hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy và K khai nhận mua ma túy của Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1994, trú tại: Tổ dân phố H, phường C, thành phố Hà Nội. Đồng thời, K và D giao nộp:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, lắp SIM số 0388.756.453 (K giao nộp).
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, lắp SIM số 0982.514.931, 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 99D1-447.48, số khung RLHJA3919LY155358, số máy JA39E1493211 (Dưỡng giao nộp).

Ngày 18/7/2025, Nguyễn Ngọc H2 đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đặng Văn K tại thôn T, xã Y ngày 17/7/2025. Quá trình đầu thú, Nguyễn Ngọc H2 giao nộp:

  • + 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng, H2 khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá, ngựa của H2 để bán, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu H1;
  • + 01 điện thoại Realme màu đen đã qua sử dụng, lắp SIM số 0329.945.535;
  • + 01 xe đạp điện màu đen, trắng đã qua sử dụng;
  • + Số tiền 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

Cùng ngày 18/7/2025, Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc H2 tại nhà của Trần Phú L1, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ trong phòng của L1:

  • + Trên mặt tủ, cạnh đầu giường, có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bằng sắt, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu K1.
  • + Tại nền nhà có 01 cân tiểu ly màu trắng trong túi quần áo của H2.

Ngày 18/7/2025, tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, Trần Phú L1 xin đầu thú, khai nhận 01 túi nilon màu trắng chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp dạng “đá, ngựa” của L1 để sử dụng cho bản thân.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu của H2, L1, kết quả đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Ngày 17/7/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ được của D, K.

Tại Kết luận giám định số 1361/KL-KTHS ngày 19/7/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:

  • + Chất màu đen bên trong phong bì thư gửi giám định; là ma túy; loại ma túy Methamphetamine. Không xác định được khối lượng.
  • + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì gửi giám định: là ma túy; loại ma túy Methamphetamine. Không xác định được khối lượng.

Ngày 18/7/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ được của H2, L1.

Tại Kết luận giám định số 1485/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của phòng K3 Công an tỉnh B kết luận:

  • + 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu K1 gửi giám định có khối lượng là 0,3728 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu K1 gửi giám định có khối lượng là 0,0290 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu H1 gửi giám định có khối lượng là 0,0962 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + Chất tinh thể màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu H1 gửi giám định có khối lượng là 0,2136 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy Methamphatamine của L1 là 0,4018 gam, tổng khối lượng ma túy Methamphatamine của H2 là 0,3098 gam.

Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS-KV7 ngày 11/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh đã truy tố Đặng Văn K, Nguyễn Xuân D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Phú L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo khai nhận: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 17/7/2025, Đặng Văn K đi đến phòng trọ của Nguyễn Xuân D chơi. Tại đây, K bàn với D đi mua ma túy “đá” về cùng nhau sử dụng, D đồng ý. K góp số tiền 200.000 đồng và D góp 100.000 đồng để cùng nhau mua ma túy về sử dụng.

Sau đó, D đưa số tiền 100.000 đồng cho K. K cầm tiền của D rồi sử dụng điện thoại di động S màu xanh, lắp SIM số 0388.756.453, nhắn tin từ ứng dụng Messenger của K là “Đặng Kiên” đến tài khoản Messenger “Lương Ngọc H3” của Nguyễn Ngọc H2 để hỏi mua 300.000 đồng ma túy “đá. H2 đồng ý bán. Huyền gửi mã QR số tài khoản 19001011702266 mở tại Ngân hàng cổ phần H4 (viết tắt là M1) chi nhánh Phòng G, tên chủ tài khoản là “Nguyễn Đức A” để K chuyển tiền. K chuyển khoản số tiền 800.000 đồng từ tài khoản số [...] Ngân hàng V của K đến số tài khoản mà H2 cung cấp, trong đó 300.000 đồng tiền mua ma túy và 500.000 đồng là tiền K trả nợ H2 từ trước.

Sau khi nhận được tiền chuyển khoản, H2 nhắn tin hẹn K đến đoạn đường thuộc thôn T, xã Y để giao ma túy. K bảo Dưỡng chở K đi lấy ma túy. Sau đó, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 99D1-44748 của D chở K đi đến thôn T. Đến khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày 17/7/2025, K, D gặp H2 điều khiển xe đạp điện màu đen trắng ở đường T. H2 đưa cho K 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy “đá”. K cầm túi ma túy rồi cả hai về phòng trọ của D. Tại đây, khoảng hơn 08 giờ ngày 17/7/2025, K đưa túi ma túy đá cho D. D lấy chai nhựa có nắp màu đỏ đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút màu cam, ống còn lại cắm ống hút màu vàng đầu ống có quấn giấy bạc và bật lửa có sẵn trong phòng trọ (do D đã làm trước đó để sử dụng ma túy) bỏ ra nền phòng. Sau đó, D đổ ma túy “đá” trong túi nilon ra mảnh giấy bạc (do D đã sử dụng từ trước), dùng bật lửa đốt phía dưới mảnh giấy bạc và đưa cho K hít hơi ma túy qua ống hút trước rồi đến lượt D tự sử dụng. Cả hai lần lượt sử dụng cho đến hết số ma túy mua được vào khoảng 09 giờ cùng ngày. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra phòng trọ của D, phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Về nguồn gốc số ma túy bán cho K, H2 khai nhận: H2 là bạn gái của L1 và ở cùng phòng với L1 tại nhà của L1 ở thôn T, xã Y từ đầu tháng 7/2025. Sáng ngày 17/7/2025, sau khi K nhắn tin và chuyển khoản tiền mua ma túy cho H2 thì H2 điều khiển xe đạp điện của H2 đi đến xã V, tỉnh Bắc Ninh mua của một người đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân, địa chỉ) 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng, là ma túy “đá, ngựa” với giá 250.000 đồng. Sau đó, H2 lấy một phần ma túy đá mua được cho vào 01 túi nilon màu trắng khác để bán cho K, phần ma túy còn lại H2 cất giữ trên người, mục đích để bán. Ngày 18/7/2025, H2 đã giao nộp số ma túy trên cho Cơ quan điều tra khi đầu thú.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ tại phòng của Trần Phú L1, L1 khai nhận: L1 sử dụng ma túy tổng hợp từ năm 2020 đến nay. Tối ngày 17/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L1 đã gặp và mua của một người đàn ông tên Đ (không rõ nhân thân, địa chỉ) tại xã Y, tỉnh Bắc Ninh 01 túi nilon màu trắng chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng và 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng với giá 700.000 đồng để sử dụng. Khi về đến nhà, L1 để các túi ma túy mua được vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bằng sắt rồi để trên mặt tủ cạnh đầu giường trong phòng ngủ để sử dụng dần. Trưa ngày 18/7/2025, khi lực lượng công an khám xét khẩn cấp nhà L1 thì L1 đã giao nộp vỏ bao thuốc lá bên trong có ma túy và chiếc cân tiểu ly như đã nêu trên. Chiếc cân tiểu ly là của L1, hiện không sử dụng được, khi L1 dọn dẹp nhà thì để tạm vào túi quần áo của H2. Việc tàng trữ ma túy ở nhà L1 không nói cho H2 biết, bản thân H2 cũng không biết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh sau khi phân tích chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đã giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn K, Nguyễn Xuân D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Ngọc H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Phú L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; (đối với bị cáo K áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51); Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đặng Văn K từ 38 tháng tù đến 40 tháng tù; Nguyễn Xuân D từ 40 tháng tù đến 42 tháng tù.

Áp dụng khoản 1, 6 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc H2 từ 42 tháng tù đến 44 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Phú L1 từ 40 tháng tù đến 42 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Đặng Văn K, Nguyễn Xuân D và Trần Phú L1. Phạt bổ sung Nguyễn Ngọc H2 từ 5 triệu đến 10 triệu đồng.

Về vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ đục 2 lỗ, một lỗ cắm ống hút màu cam, một lỗ cắm ống hút màu vàng, đầu ống quấn giấy bạc là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy; 01 cân tiểu ly bị hỏng; SIM số 0388.756.453 và SIM số 0329.945.535.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, 01 điện thoại Realme màu đen, 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 99D1-447.48 đều đã qua sử dụng; số tiền 300.000 đồng.
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân D 01 điện thọai di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, lắp SIM số 0982.514.931, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lưu theo hồ sơ đĩa DVD ghi âm hỏi cung các bị cáo.

Ông Trịnh Huỳnh Q và ông Đinh Đức D2 trình bày luận cứ bào chữa cho bị Trần Phú L1: Về tội danh, điều luật áp dụng Luật sư nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận về nội dung này. Người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét đến nhân thân, bị cáo đang nuôi con nhỏ sinh năm 2017; thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng mức khởi điểm của khung hình phạt.

Đối đáp với ý kiến bào chữa của Luật sư, Kiểm sát viên phát biểu: Do bị cáo có 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” nên Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị.

Các bị cáo nhận tội, nhất trí với phần kết luận và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 07 giờ 20 phút ngày 17/7/2025, tại phòng trọ của Nguyễn Xuân D tại thôn Y, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, Đặng Văn K và Nguyễn Xuân D đã tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy. K là người rủ D góp tiền mua ma túy, D góp 100.000 đồng đưa cho K, K góp 200.000 đồng. K là người hỏi mua ma túy của Nguyễn Ngọc H2 và chuyển khoản 300.000 đồng cho H2. Sau đó, D điều khiển xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 99D1-447.48 của D chở K đi đến thôn T gặp H2 nhận 01 túi nilon chứa ma túy Methamphetamine mang về phòng trọ của D sử dụng. D là người bỏ dụng cụ sử dụng ma túy và đốt ma túy cho K, D cùng sử dụng từ khoảng hơn 08 giờ đến hơn 09 giờ thì sử dụng hết ma túy. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã Y kiểm tra, phát hiện hành vi phạm tội của D, K.

Ngày 18/7/2025, Nguyễn Ngọc H2 đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đầu thú và giao nộp 0,3098 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để bán.

Cùng ngày 18/7/2025, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của H2 tại nhà của Trần Phú L1 ở thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, thu giữ 0,4018 gam ma túy Methamphetamine tại phòng ngủ của L1. Khối lượng ma túy trên là của L1 mua ngày 17/7/2025, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của các bị cáo Đặng Văn K và Nguyễn Xuân D đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 đã có hành vi bán ma tuý cho bị cáo K với giá 300.000 đồng và giao nộp 0,3098 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc H2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Phú L1 đã có hành vi tàng trữ 0,4018 gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Trần Phú L1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới chế độ độc quyền quản lý đối với các chất gây nghiện nói chung và ma tuý nói riêng của Nhà nước. Các bị cáo hoàn toàn ý thức được mọi hành vi mua bán, tổ chức sử dụng, tàng trữ các chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Hành vi của các bị cáo làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong cộng đồng dân cư và gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Trong vụ án, bị cáo K, D cùng nhau tổ chức sử dụng ma tuý nên đồng phạm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo L1, Huyền phạm các tội độc lập với nhau và với các bị cáo K, D, nên L1, H2 phạm tội không có tính chất đồng phạm.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Đặng Văn K, Nguyễn Xuân D, Nguyễn Ngọc H2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Trần Phú L1 có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2018/HSST ngày 14/6/2018 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt Trần Phú L1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung 10.000.000 đồng; ngày 14/10/2025 bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung. Bản án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội; quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra mở rộng vụ án, xử lý đối với bị cáo H2, vì vậy bị cáo K được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H2 hiện nay đang nuôi 3 con nhỏ, vì vậy Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

Xét thấy cần buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện như phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Đặng Văn K, Nguyễn Xuân D và Trần Phú L1 không có việc làm ổn định và không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đối với bị cáo H2 phạm tội với mục đích kiếm lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[5]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1361/KL-KTHS ngày 19/7/2025 và Kết luận giám định số 1485/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của phòng K3 Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ đục 2 lỗ, một lỗ cắm ống hút màu cam, một lỗ cắm ống hút màu vàng, đầu ống quấn giấy bạc là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy; 01 cân tiểu ly bị hỏng không còn giá trị sử dụng; SIM số 0388.756.453 và SIM số 0329.945.535, cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng của K; 01 điện thoại Realme màu đen đã qua sử dụng của H2 là điện thoại các đối tượng sử dụng liên lạc mua ma túy; 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 99D1-447.48 của D là phương tiện sử dụng đi mua ma túy; Số tiền 300.000 đồng là tiền bán ma túy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với chiếc điện thọai di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, lắp SIM số 0982.514.931 của D, D không sử dụng chiếc điện thoại này vào mục đích phạm tội nên cần trả lại, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lưu theo hồ sơ đĩa DVD ghi âm hỏi cung các bị cáo.

[6]. Liên quan trong vụ án này có người thanh niên tên T3 bán ma túy cho H2 và người thanh niên tên Đ bán ma túy cho L1, nhưng H2, L1 không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Bắc Ninh không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với chủ tài khoản 19001011702266 Ngân hàng M1, quá trình điều tra xác định được là Nguyễn Đức A, sinh năm 1992, trú tại thôn C, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh B trong vụ án khác. Số tài khoản trên do Đức A mở tại Ngân hàng hộ H2 do H2 bị mất căn cước công dân. Tài khoản này do H2 sử dụng. Đức A không biết việc H2 sử dụng tài khoản trên để nhận tiền mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xử lý đối với Đức A là phù hợp.

Đối với kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với chất ma túy của H2, L1, các bị can khai nhận do các bị can sử dụng ma túy trước đó. H2 khai nhận sử dụng ma túy “đá” một ngày trước đó ở bãi đất trống tại thôn T, xã Y, nguồn gốc ma túy do H2 mua của một người thanh niên không quen biết ở thôn Ấ, xã Y. L1 khai nhận đã sử dụng ma túy “đá” một mình ở nhà trước đó vài ngày, nguồn gốc ma túy do L1 mua của một người thanh niên không quen biết ở thôn T, xã Y. Tuy nhiên, khi L1 sử dụng ma túy ở nhà không có ai biết. H2, L1 không phải đối tượng nghiện ma túy, đang điều trị, cai nghiện hoặc bị quản lý sau cai nghiện. Vì vậy không đủ căn cứ xử lý đối với H2, L1 về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H2, L1 bằng hình thức “cảnh cáo” là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Văn D3 là chủ nhà trọ, anh D3 không biết việc D, K sử dụng ma túy và các đối tượng cũng không nói cho anh D3 biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B chỉ gọi hỏi, nhắc nhở anh D3 là phù hợp.

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn K, Nguyễn Xuân D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Trần Phú L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2025.

    Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 40 (Bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2025.

    Áp dụng khoản 1, 6 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H2 44 (Bốn mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2025.

    Phạt bổ sung 10 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt Trần Phú L1 40 (Bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2025.

    Áp dụng Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1361/KL-KTHS ngày 19/7/2025 và Kết luận giám định số 1485/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của phòng K3 Công an tỉnh B; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ đục 2 lỗ, một lỗ cắm ống hút màu cam, một lỗ cắm ống hút màu vàng, đầu ống quấn giấy bạc là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy; 01 cân tiểu ly bị hỏng không còn giá trị sử dụng; SIM số 0388.756.453 và SIM số 0329.945.535.

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng của K; 01 điện thoại Realme màu đen đã qua sử dụng của H2; 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 99D1-447.48 của D; Số tiền 300.000 đồng.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân D 01 điện thọai di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, lắp SIM số 0982.514.931, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2025 giữa Công an tỉnh B với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Bắc Ninh và Biên lai nộp tiền ngày 12/11/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Bắc Ninh).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 BLTTHS;

    Báo cho các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Ngọc Tuấn

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQTHAHS CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSNDKV7 - Bắc Ninh;
  • - Phân Trại tạm giam Từ Sơn;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS KV7 - Bắc Ninh.
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC Đặng Văn K và đồng phạm phạm tội " Tổ chức, mua bán, sử dụng Trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger