|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2025/HS-ST Ngày 18/11/2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dong.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bích Hồng;
2. Bà Nguyễn Thị Út.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Nụ- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cao Bằng đối với:
Bị cáo Lục Thị K; tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ.
Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1978 tại phường T, tỉnh Cao Bằng;
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lục Văn H (đã chết); con bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1952; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng; Chồng: Nông Xuân H1, sinh năm: 1975; Con: Có hai con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2008; Anh, chị, em ruột: Bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/8/2025 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 04/8/2025, tại số nhà D, tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng, Công an phường T, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Lục Thị K (sinh năm: 1978; trú tại: tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng) có hành vi mua bán số lô, số đề trái phép. Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Mate 9, mặt lưng màu vàng, mặt kính cảm ứng bị nứt vỡ, số IMEI: 864360039136091, gắn sim số 0827.027.828, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Thu giữ trên bàn bếp tầng một nơi Lục Thị K đang ngồi.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở đối với Lục Thị K. Qua khám xét tại túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người của K, Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện và tạm giữ 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 7/2025, Lục Thị K gặp một phụ nữ tên M là “chủ đề” trong một lần đi chợ, người này nói với K nhận số lô, số đề của khách rồi chuyển lại để hưởng hoa hồng. K đồng ý. M cung cấp cho K 01 điện thoại nhãn hiệu HUAWEI và số điện thoại 0827.027.xxx để mua bán số lô, số đề. Hàng ngày, K nhận số lô, số đề của người chơi qua tài khoản Zalo do M đặt có tên là “Lanh” (đăng ký bằng số điện thoại 0827.027.xxx). Khi nhận được tin nhắn mua số lô, số đề, K nhắn “OK” xác nhận bán số lô, số đề cho người chơi, sau đó tổng hợp lại và gửi toàn bộ cho M có tài khoản Zalo tên “Hhpp”. Sau khi có kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng, K căn cứ bảng lô, đề để cân đối tiền cược và tiền trúng thưởng. Người chơi thắng cược đến nhà K thanh toán tiền mặt trực tiếp khi có kết quả xổ số. Sau khi K cân đối bảng đề và trừ phần hưởng lợi, ngày hôm sau sẽ có người lạ mặt (do M cử đến) tới nhà K để nhận hoặc giao tiền, tùy thuộc vào kết quả bảng đề của ngày hôm trước.
Từ khoảng giữa tháng 7/2025, Lục Thị K bán số lô, số đề trái phép cho khách tại số nhà D, tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng. Hình thức chơi số lô, số đề như sau: Đối với số đề, người chơi tùy chọn các số từ 00 đến 99. Nếu số người chơi chọn trùng với hai số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số Miền Bắc cùng ngày thì được trả thưởng theo tỷ lệ 1 ăn 70 (Ví dụ: Đánh 1.000 đồng trúng thưởng được trả 70.000 đồng). Khi bán số đề, K thu 80% tổng số tiền người chơi mua số, trích lại 20% cho người chơi (Ví dụ: Khách mua số đề 100.000 đồng thì chỉ thu 80.000 đồng). Khi chuyển số đề cho “chủ đề”, K phải trả 75% số tiền chơi, hưởng lợi 05% tổng số tiền người chơi mua số đề. Đối với số lô: Người chơi tùy chọn các số từ 00 đến 99. Nếu số trùng với hai số cuối của 27 giải xổ số Miền B quay cùng ngày thì trúng thưởng, cụ thể 1.000 đồng đổi ra thành 01 điểm, nếu người chơi đặt cược 01 điểm lô thì phải trả số tiền là 23.000 đồng, tỷ lệ trúng thưởng là 1 x 80 lần (1 điểm lô trúng thưởng được trả 80.000 đồng). K thu của người chơi 23.000 đồng/01 điểm lô, khi chuyển cho “chủ đề” phải trả 22.500 đồng/01 điểm lô, hưởng lợi 500 đồng/01 điểm lô.
Qua kiểm tra điện thoại của Lục Thị K xác định được: Vào ngày 04/8/2025, Lục Thị K đã bán số lô, số đề cho bốn người chơi với tổng số tiền đánh bạc là 13.399.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm chín mươi chín nghìn đồng). Đối với 04 người này, K khai không biết là ai. Quãng thời gian trở về trước do K đã xoá hết tin nhắn trong điện thoại nên không xác định được số tiền đánh bạc để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV 1 ngày 29/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lục Thị K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lục Thị K đã trình bày lại nội dung vụ án và thừa nhận hành vi sử dụng đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề cho người chơi qua mạng xã hội zalo để hưởng lợi đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Cao Bằng đã truy tố đồng thời bị cáo đã thừa nhận trách nhiệm của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lục Thị K phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lục Thị K bằng hình phạt tiền mức phạt từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ về tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
+ Tịch thu, phát mại 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu HUAWEI Mate 9, màu vàng, có số IMEI 1: 864360039136091 (Theo quyết định chuyển vật chứng) gắn sim số điện thoại: 0827.027.xxx, tại phần kính cảm ứng bị vỡ nứt, điện thoại đã qua sử dụng. Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra được số IMEL do điện thoại hết pin không bật được nguồn.
+ Hoàn trả cho bị cáo số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) Số tiền trên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã chuyển vào tài khoản tạm giữ của Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo giấy nộp tiền ngày 29/10/2025 của Ngân hàng TMCP C chi nhánh C1 – phòng G. Số tiền này do bị cáo bán bánh cuốn mà có không liên quan đến việc phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lục Thị K khai nhận hành vi đánh bạc như sau: Trong ngày 04/8/2025, Lục Thị K có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề cho người chơi qua mạng xã hội Zalo để hưởng lợi. Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 04/8/2025 của K là 13.399.000 đồng.
Đối chiếu với quy định của pháp luật, hành vi của Lục Thị K đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cao Bằng truy tố bị cáo ra xét xử về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 321 quy định: Tội đánh bạc:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, song vì muốn kiếm thêm tiền chi tiêu nên bị cáo đã có hành vi bằng cách bán số lô, số đề để hưởng lợi tiền chênh lệch giữa người mua số lô, số đề và chủ đề. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và nếp sống văn minh xã hội, gây ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình, còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo biết rõ hành vi bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo để đáp ứng công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội hiện nay.
[4] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì HĐXX thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy: Để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Hội đồng xét xử, xét thấy không nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cần tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội làm ăn lương thiện, để bị cáo tự kiểm điểm lại hành vi của mình, do đó cần cho bị cáo chịu mức hình phạt tiền để sung vào ngân sách nhà nước cũng thỏa đáng, đồng thời cũng đủ tính răn đe bị cáo nhận thức về hành vi phạm tội của mình nên khi cân nhắc mức hình phạt Hội đồng xét thấy cần cho bị cáo chịu mức hình phạt tiền với mức trên mức khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng nhằm để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung đối với xã hội. Do đó, mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
- Ngoài hình phạt chính, tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 còn quy định hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với người phạm tội danh này. Xét thấy vì đã áp dụng hình phạt chính bằng tiền đối với bị cáo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[5]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu HUAWEI Mate 9, màu vàng, có số IMEI 1: 864360039136091 (Theo quyết định chuyển vật chứng) gắn sim số điện thoại: 0827.027.xxx, tại phần kính cảm ứng bị vỡ nứt, điện thoại đã qua sử dụng. Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra được số IMEL do điện thoại hết pin không bật được nguồn. Bị cáo đã sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại để sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) Số tiền trên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã chuyển vào tài khoản tạm giữ của Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo giấy nộp tiền ngày 29/10/2025 của Ngân hàng TMCP C chi nhánh C1 – phòng G. Số tiền này do bị cáo bán bánh cuốn mà có không liên quan đến việc phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Đối với “chủ đề” là M, qua xác minh tài khoản Zalo “Hhpp” không thể hiện thông tin chủ tài khoản, K không biết M họ tên, địa chỉ ở đâu nên không có căn cứ để làm rõ. Đối với 04 người chơi số lô, số đề với K trong ngày 04/8/2025, K khai không quen biết mà chỉ nhắn tin qua ứng dụng Zalo, không lưu số điện thoại và cũng không biết họ tên, địa chỉ của những người này. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Bị cáo Lục Thị K phạm tội “Đánh bạc”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lục Thị K bằng hình phạt tiền, mức phạt số tiền: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án:
Tịch thu, phát mại sung ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu HUAWEI Mate 9, màu vàng, có số IMEI 1: 864360039136091 (Theo quyết định chuyển vật chứng) gắn sim số điện thoại: 0827.027.xxx, tại phần kính cảm ứng bị vỡ nứt, điện thoại đã qua sử dụng. Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra được số IMEL do điện thoại hết pin không bật được nguồn.
(Vật chứng hiện nay đang được bảo quản tại Phòng THADS khu vực 1 - Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12 ngày 30/10/2025).
- Hoàn trả cho bị cáo Lục Thị K số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) Số tiền trên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã chuyển vào tài khoản tạm giữ của Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo giấy nộp tiền ngày 29/10/2025 của Ngân hàng TMCP C chi nhánh C1 – phòng G. Tuy nhiên, cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo cho việc thi hành án.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Dong |
Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 55/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự Lục Thị K
