TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 28/11/2025
V/v “Ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Minh, ông Nguyễn Trường Ca.
Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Thuỷ- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 260/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh L, sinh ngày 31/3/1996; Hộ chiếu số: C5976766 cấp ngày 11/9/2018; nơi ĐKHKTT: số E, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ; nơi ở hiện nay: Tầng A, 2, 4, 5 và tầng lửng, số A, đường T, khu T, thành phố T, Đài Loan.
Người được chị L uỷ quyền giao, nhận văn bản tố tụng: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn R, xã B, tỉnh Quảng Trị. Người được ông T uỷ quyền lại: Bà Kiều Thu T1, sinh năm 2003; địa chỉ: Số B, ngách D D, phường P, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quy T2, sinh ngày 29/9/1991; Căn cước công dân số: [...] do Bộ C cấp ngày 05/5/2025; địa chỉ: tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng.
Chị L, chị T1 và anh T2 vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai đều đề ngày 15/7/2025, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh L trình bày: Chị và anh Nguyễn Quy T2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là phường T, thành phố Hải Phòng) vào ngày 04/4/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian đầu. Sau đó, vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn. Cùng năm 2018, chị sang Đài Loan để xây dựng kinh tế. Mặc dù, vợ chồng chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn và gia đình hoà giải động viên nhưng không có kết quả. Đến tháng 8/2020, vợ chồng chị sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Quy T2 để chị sớm ổn định cuộc sống của bản thân.
Về con chung: Chị và anh T2 không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị đang lao động tại Đài Loan, tính chất công việc và địa lý xa xôi nên chị đề nghị Toà án xem xét cho chị được vắng mặt tại các buổi làm việc, buổi triệu tập, phiên họp, phiên toà xét xử giữa chị và anh T2.
Tại Bản tự khai đề ngày 13/11/2025, bị đơn anh Nguyễn Quy T2 trình bày: Về điều kiện kết hôn, anh T2 trình bày như chị L trình bày nêu trên. Anh xác định năm 2021 vợ chồng anh có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khi anh và chị L cùng đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan thì chị L đã có người đàn ông khác, không chung thuỷ với anh nên anh không níu kéo. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh và chị L không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh và L ly hôn.
Về con chung: Anh và chị L không có con chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh xác định không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà
- Các đương sự đều vắng mặt.
- Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của các điều 70, 71, 72, 78, 86 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ánh L, cho chị L ly hôn với anh Nguyễn Quy T2.
- Án phí: Buộc chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ánh L và anh Nguyễn Quy T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh L và anh Nguyễn Quy T2 được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là phường T, thành phố Hải Phòng) nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Chị L và anh T2 đều xác định trong cuộc sống chung vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và nghi ngờ, thiếu tin tưởng nhau về sự chung thủy. Anh chị đã sống ly thân. Nay chị L và anh T2 cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L xin ly hôn anh T2, anh T2 cũng đồng ý. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy hôn nhân giữa chị L và anh T2 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị được ly hôn với anh T2.
[3] Về con chung: Chị L và anh T2 không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị L và anh T2 không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ánh L được ly hôn anh Nguyễn Quy T2.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Ánh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003724 ngày 14 tháng 10 năm 2025 Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị L đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng có bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh T2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng có bản án trong thời hạn 15 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quyết |
Bản án số 55/2025/HNGĐ - ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh L và bị đơn anh Nguyễn Quy T
